Đạo Tâm
Navigation

Trang Chính
Tâm Thư
Cơ Cấu Tổ Chức
Hoạt Động

Pháp Ngữ & Âm
Bài Pháp Chọn Lọc
Nghe Pháp

Sáng Tác
Thơ
Văn
Truyện Đạo
Âm Nhạc

Quỹ Từ Thiện
Lá Thư Từ Thiện
Hoạt Động Từ Thiện
Trung Tâm Bảo Trợ

Sinh Hoạt
Tu Học
Thân Ái
Hình Sinh Hoạt
Lịch Trình Sinh Hoạt

Đặc San
Xuân Đinh Hợi 2007
Vu Lan 2007
Xuân Mậu Tý 2008

Nối Vòng Tay
Nhịp Cầu
Liên Lạc
Tự Viện Địa Phương

Thiếu Nhi
Bài Hát
Nghe Truyện
Hình Ảnh
Phật Giáo và Khoa Học (Phần II)

Phật Giáo và Khoa Học
(Phần II)

Thiền sư Jean-Pierre Faure


A.Godefroy: Tuần vừa qua, chúng tôi đã được dịp tìm hiểu khoa học là gì. Tuy nhiên riêng tôi vẫn muốn trở lại vấn đề các phương pháp đã được sử dụng trong khoa học. Các phương pháp ấy có mang tính cách đối nghịch hay không? Có đúng là người ta bắt buộc phải đặt lý trí và trực giác song hành với nhau, hay ngược lại cả hai có thể hỗ trợ cho nhau?

J.P.Faure: Vâng, tôi nghĩ rằng người ta không thể nào tách rời thân xác và tâm thức, lý thuyết và thực hành. Đúng như cô đã nói, người ta có thể xem Phật giáo là một khoa học, ngành khoa học đó gồm có kinh sách và các tập luận giải đại diện cho phần lý thuyết để hướng dẫn chúng ta bước vào phần thực hành. Vì thế cả hai mặt cùng bổ khuyết cho nhau.

A.G.: Có những khám phá khoa học quan trọng được thực hiện nhờ vào trực giác. Vậy ông có thể kể ra đây hay chăng?

J.P.Faure: Vâng, trực giác không phải là gia tài riêng của tôn giáo. Chẳng hạn Einstein khi phải đối đầu với những cảm nhận mà ông ta không thể giải thích bằng những hiểu biết trong bối cảnh đương thời, thì ông ta bắt buộc phải nhảy một bước dài vào chỗ trống không để chấp nhận năng lượng và vật chất, thời gian và không gian, đều liên kết với nhau (1).

A.G.: Mục đích của khoa học và mục đích của Phật giáo là gì?

J.P.Faure: Nếu ta nhìn vào lịch sử của nhân loại, ta sẽ thấy rằng khoa học nhờ vào các khám phá và ứng dụng đã mang đến nhiều lợi ích trên phương diện sức khoẻ, trên phương diện kỹ thuật. Trong đời sống thường nhật, người ta đều thừa hưởng được kết quả của những khám phá kỹ thuật ấy và chỉ có Trời mới biết được những tiến bộ đó có vĩ đại hay không và đem ra sử dụng có mang đến những lợi ích thật lớn lao hay không. Nhất định, trên phương diện sức khoẻ người ta có thể được chạy chữa nhờ vào các khám phá khoa học. Kể cả trường hợp lâm vào tình cảnh vô cùng tệ hại thì cũng có thể nhờ khoa học cứu giúp bằng mọi cách trị liệu. Tuy nhiên còn biết bao nhiêu vấn đề khác liên hệ đến sự hiện hữu, chẳng hạn như cái chết – cái chết đang xảy ra trong từng giây phút một và cả cái chết khi bước vào cảnh giới của bát-niết-bàn – đó là những gì mà khoa học hoàn toàn bó tay, trong cảnh huống đó ta phải tự đối đầu với chính mình, và cái kinh nghiệm đó là cái kinh nghiệm của chính Đức Phật đã thực hiện và truyền lại cho chúng ta, thôi thúc chúng ta đem ra thực hiện trong từng giây phút một.

A.G.: Do đó người ta cũng có thể bảo rằng chủ đích của Phật giáo là cách tập luyện tâm thức để làm nhẹ bớt khổ đau?

J.P. Faure: Hoàn toàn đúng như thế. Đức Phật giảng dạy trong mục đích duy nhất làm cho vơi bới khổ đau.

A.G.: Theo ông thì vật lý học có thể giúp đạt được hiện thực hay không?

J.P.Faure: Không. Theo tôi vật lý học chỉ có thể đến gần và đến gần hơn, thế thôi. Nếu nhìn vào các khám phá trong thế kỷ vừa qua, người ta sẽ nhận thấy ngành cơ học cổ điển lúc đầu chỉ nhắm vào một số hiện tượng nào đó, về sau mới được cải thiện thêm khi liên hệ với các hiện tượng chuyển động với những tốc độ cực nhanh, và sau đó lại bước vào lãnh vực của thế giới hạ nguyên tử (subatomique), và sau hết lại có các ngành vật lý học khác xuất hiện, như vật lý tương đối, cơ học lượng tử..., để ứng dụng vào các lãnh vực khác nữa. Vì vậy, nhất định là người ta có thể đến gần hơn, đến gần hơn, đến gần hơn nữa, nhưng người ta sẽ không bao giờ có thể chạm vào hiện thực được, chẳng qua vì bản chất của vật lý là đứng ra bên ngoài đối tượng mà người ta quan sát. Và sự kiện đứng ra bên ngoài như thế chính là nguyên nhân đã làm nhiễu loạn hiện thực.

A.G.: Vậy theo ông hiện thực là gì? Có phải đấy là sự thực tuyệt đối? Làm thế nào để định nghĩa sự thực ấy?

J.P. Faure: Nhiều triết gia, chẳng hạn như Spinoza (2), đã từng đề cập đến vấn đề bản thể và các biểu hiện phụ thuộc. Bản thể không nắm bắt được. Trái lại, hình tướng, hiện tượng, thì trên thực tế người ta có thể chụp hình được, nhìn thấy được. Tuy thế, hình tướng cũng không phải là khác với bản thể. Và chính trong điểm ấy có hàm chứa một cái gì đó, nhưng ngành vật lý học đã cướp mất sự cảm nhận tối hậu của chúng ta mất rồi.
Vì thế, tôi có ý muốn nêu lên sự khác biệt giữa những chiếc bóng của hiện thực và chính sự hiện thực tối hậu, khi đã hoàn toàn hội nhập vào hiện thực tối hậu, ta sẽ không còn nhìn thấy chính ta nữa.

A.G.: Để chuẩn bị cho buổi phát sóng này, ông có nói với tôi rằng Đức Phật không hề mô tả sự giác ngộ của Ngài bằng bất cứ một ngôn từ nào cả. Tuy nhiên người ta vẫn có thể tự hỏi có phải chăng kinh nghiệm đó dù sao đi nữa cũng đã giúp cho chúng ta có thể đến gần tối đa với hiện thực?

J.P.Faure: Đấy chính là cái ngón tay tuyệt vời đã trỏ thẳng vào mặt trăng, nhưng lại không phải là mặt trăng. Và rồi vào cuối cuộc đời của Ngài, Đức Phật đã nói như sau: « Cứ kể như ta chưa hề nói lên một lời nào cả ». Điều ấy có nghĩa là nếu thật sự muốn thực hiện được sự cảm nhận thế nào là không khổ đau, thì hãy lắng chìm trong hiện thực, hòa mình với hiện thực, hội nhập vào dòng chảy của sinh và tử, và trong chính những giây phút đó hãy làm những gì mà Đức Phật đã làm. Tất cả những lời giảng huấn của Đức Phật lưu lại trong kinh sách đều là những lời khuyên nhủ chúng ta hãy tự thực hiện cho chính mình cái cảm nhận ấy của Phật.

A.G.: Ông có thể trình bày thật ngắn gọn ý nghĩa của loại cảm nhận ấy là thế nào? Ông đã từng cho tôi biết là có hai loại cảm nhận?

J.P.Faure: Vâng. Hiển nhiên là có một thứ cảm nhận mà tôi cho rằng có ích lợi, những cảm nhận ấy dùng để rút tỉa và đưa ra những giả thuyết, thí dụ như việc kiểm soát sự phân cắt hạch nhận chẳng hạn (3). Người ta cũng nhận thấy rõ kỹ thuật đã được cải tiến như thế nào, tất cả kỹ thuật đều bắt nguồn từ những phát minh cơ bản. Vì thế có một sự giám sát trên phương diện vật chất, một sự chủ động nào đó đối với tất cả mọi vật thể. Quả đúng, đấy chính là thiên tài của con người dùng để kiểm soát mọi sự vật, nhưng cái thiên tài ấy cũng có thể dùng để sử dụng một cách vô ý thức cái khí cụ khoa học cực mạnh để đưa con người đi thẳng vào một bức tường (4).
Đối với Đức Phật, thì Ngài lại không hề quan tâm đến những lợi ích mà khoa học có thể mang đến, vì Ngài đã từng nói như sau:
« Các con còn đang phải đối đầu với cái chết, với bệnh tật, với sự xa lìa những gì các con yêu quý, với thời gian trôi nhanh, với vô thường..., nhưng các con lại chẳng có gì cả, một khí cụ nhỏ cũng không. Các con chỉ cần đắm mình vào trong đó, ngay nơi này và trong cái hiện tại này, hội nhập với cảnh huống, ngay cả trên chiếc giường mà các con sẽ nằm xuống để chết ».

A.G.: Ông có nghĩ rằng các tiêu đề khoa học đều mang tính cách lượng tính hơn là phẩm tính? Trong trường hợp của Phật giáo thì thế nào?

J.P.Faure: Vâng. Đối với khoa học trong một cấp bậc nào đó, khi nghiên cứu thân xác con người chẳng hạn, thì khoa học nghiên cứu quả tim tách rời khỏi buồng gan – giống như nghiên cứu một người chết – sau đó mới cố gắng đến gần hơn với sự vận hành của một người sống, dù cho đấy là một chuyên gia về gan hay về tim thì họ cũng đều làm như thế.
Nhưng rốt lại, vấn đề thật sự chính lại là tổng thể. Nhưng tổng thể thì không dừng lại ở cấp bậc đó. Sự sống này của tôi là sự sống của vũ trụ, ấy là không khí mà tôi đã thở, nước mà tôi đã uống, thực phẩm mà tôi đã tiếp nhận được, đó là tất cả những gì được trao đổi giữa tôi và chúng sinh. Sự sống đó là Một.
Nhưng khoa học lại có khuynh hướng phân cắt ra từng mảnh nhỏ. Khoa học ý thức hẳn hoi được việc ấy, tức có nghĩa là khi nghiên cứu về vật lý, cần phải ý thức là đang nghiên cứu trong lãnh vực nào. Một thí dụ điển hình là ngày nay, tất cả các nhà vật lý học đều hiểu rằng khi họ đo đạt, thì chính sự đo đạt đã làm cho hiện thực bị xáo trộn. Và rồi, bên ngoài những kết quả đo đạt, người ta không còn biết hiện thực thật sự là gì. Vật lý lượng tử ngày nay được xem như một khoa học về sự đo đạt, điều đó có nghĩa là cái gì sẽ xảy ra nếu như tôi không đo gì cả ??? Không làm sao biết được.

A.G.: Tất cả những phát minh ấy đều kéo theo những vấn đề đạo đức. Chính đấy là những gì cần phải quan tâm, nếu không thì biết đâu có thể đưa đến những hiểm nguy trầm trọng. Vậy ông nghĩ thế nào?

J.P.Faure: Tôi cũng nghĩ như Rabelais (5) « Khoa học không lương tâm chỉ là sự phá sản của tâm linh ». Thực ra thì Phật giáo cũng đã nêu lên cái khuôn phép đó, tức cần phải hội nhập với hiện thực, nhưng không tìm cách bám víu vào sự thèm khát, cũng không tìm cách xô bỏ những gì thù ghét. Nếu kịp thời loại bỏ được những nọc độc ấy trong tâm thức, thì nhất định chúng ta sẽ có quyền sử dụng tất cả mọi khám phá khoa học, nhưng đừng quên là phải nghĩ đến nhân loại. Điểm hệ trọng chính là cách khơi động trong ta tinh thần biết ơn đó đối với nhân loại. Nếu ta không nhìn thấy sự biết ơn ấy và chỉ biết hành động duy nhất qua sự chi phối của các thứ nọc độc, thì lúc đó tất cả mọi khám phá khoa học đều có thể biến thành thảm trạng.

A.G.: Có phải chúng ta đang trở lại vấn đề liên quan đến động cơ thúc đẩy?

J.P.Faure: Đúng thế, nếu không chúng ta cũng có thể nghĩ rằng không thể nào gạt sang một bên cái kích thước sâu xa đó, cái kích thước mang tầm vóc của vũ trụ, có nghĩa là cái kích thước thực sự của mỗi con người trong chúng ta.

A.G.: Hãy trở về với cái kích thước của nhân loại, người ta có thể khẳng định rằng khoa học chỉ đòi hỏi sự đầu tư trên lãnh vực cá nhân, kém mãnh liệt hơn và kém rõ nét hơn so với Phật giáo? Chẳng hạn như trường hợp của một khảo cứu gia?

J.P.Faure: Hoàn toàn không phải là cùng một thứ tiến trình giống như nhau. Một khảo cứu gia cần phải chính xác và nghiêm túc. Người tu tập là người phải tự loại bỏ được ba thứ nọc độc cho chính mình, và đấy mới chính là một thứ gì thật là khó khăn. Bởi vì dù có hiểu biết đi chăng nữa, nhưng đôi khi sức mạnh của nghiệp, tức là những xung năng của nghiệp có thể lật đổ tất cả. Vì thế lắm khi phải cần đến một quyết tâm mãnh liệt, lánh vào một nơi thật yên tĩnh để nhìn thấy những xúc cảm của chính mình đang trỗi dậy, để ngăn chận không cho chúng tung hoành. Do đó, một người tu tập trong mục đích loại bỏ ba thứ nọc độc cần phải dấn thân một cách sâu xa hơn.

A.G.: Điều ấy cho thấy cần có một quyết tâm từ thượng nguồn?

J.P. Faure: Tôi thì nghĩ rằng đó là quyết tâm của quyết tâm. Khi hiểu được rằng ba thứ nọc độc đang tung hoành xuyên qua nghiệp của chính mình, thì người tu tập phải biết ngồi xuống, ngay cả trong lúc đang sinh hoạt hằng ngày, để quan sát, để canh chừng không để bị lôi cuốn bởi sự thèm khát hay ghét bỏ.

A.G.: Ông có thể nhắc lại cho chúng tôi hiểu thế nào là ba thứ nọc độc?

J.P.Faure: Đó là vô minh, là sự u mê không hiểu rằng trong tận cùng của mỗi con người trong chúng ta đang hiện hữu một thứ hạnh phúc thật sâu xa không lệ thuộc vào một thứ gì cả, sự hiện hữu ấy thật tinh khiết. Nếu không nhìn thấy nó, ta sẽ đâm đầu vào mọi vật thể bên ngoài với tất cả sự thèm khát, đâm đầu vào ảo giác và nghĩ rằng chúng sẽ đem đến hạnh phúc. Và cuối cùng, càng lúc ta lại càng phải chạy nhanh hơn, càng đòi hỏi sức cố gắng nhiều hơn, chẳng qua vì ảo giác không hề mở mắt cho ta để nhìn thấy những điều ấy. Tiếp theo lại có những cảnh huống mà ta mong muốn gạt bỏ, nhưng lại không gạt bỏ được, và trong những cảnh huống ấy ta lại dồn hết sức lực và sự hung hãn của ta vào đó.
Vậy ba thứ nọc độc là vô minh, dục vọng và sự thù ghét. Loại bỏ những thứ ấy là một công việc vô cùng sâu xa và tế nhị, tuy nhiên ta vẫn có thể làm được việc ấy dù cho ta đang nghiên cứu về vật lý học, hay là đang cắt một củ cà-rốt hoặc đang lái xe.

A.G.: Tóm lại, người ta có thể bảo rằng có một sự trùng hợp, một sự cộng hưởng nào đó giữa khoa học và Phật giáo? Cả hai phía giống như đã giải đáp lẫn cho nhau?

J.P.Faure: Hoàn toàn đúng như thế. Tôi tin chắc rằng, qua từng giây phút một, và không có một giây phút nào lại không hiển hiện ra trong tâm thức tôi một lời Phật dạy, và trong giây phút đó tôi lại đem lời dạy ấy của Phật vùi xuống mảnh đất tu tập của tôi để nó lại tiếp tục nuôi dưỡng thêm sự tu tập cho tôi.

A.G.: Ông muốn nói đến lời dạy nào của Phật?

J.P.Faure: Tôi cũng chẳng biết nữa, giống như là trở thành một với một người nào đó và tiếp tục duy trì sự nhất thể ấy, không rơi vào những đắn đo ích kỷ, tiếp tục tiếp xúc với hiện thực. Theo tôi, chính thể dạng đó đã giữ một vai trò thật hệ trọng trong sự tương liên với tất cả những gì đang bao quanh tôi.

A.G.: Vậy trên thực tế có thể nói rằng bất cứ một phát minh khoa học nào cũng phải được biểu lộ một cách hài hòa với sự hiểu biết toàn diện về vũ trụ này? Có phải đấy là cách quay lại với khái niệm về sự tương liên?

J.P.Faure: Đúng như thế. Và tôi cũng muốn nhấn mạnh là khoa học rất cần thiết cho tôn giáo. Không thể có một ngành khoa học không hài hòa với tôn giáo. Nhưng mặt khác tôi cũng nghĩ rằng tôn giáo cần phải tự đặt lại vị trí cho mình. Một số người cho rằng nhờ trực giác mà họ tin vào một chuyện gì đó. Nhưng phải hiểu rằng có những thứ trực giác sai lầm, có những thứ dị đoan cần phải loại bỏ và tôn giáo cần phải được giũ bụi cho sạch sẽ. Vì thế khoa học cần phải đi kèm với sự lập luận của tôn giáo, đó là những gì thật căn bản. Nhưng dù sao thì khoa học cũng không thể đi xa hơn vai trò ấy. Điều đó có nghĩa là sinh và tử trong từng giây phút một thì con người làm được, không cần đến bất cứ một thứ gì khác, họ chỉ cần biểu lộ được bản thể của Phật.

A.G.: Thưa ông Jean-Pierre Faure, xin cám ơn ông thật nhiều.

Ghi chú:

1- « nhảy một bước dài vào chỗ trống không » có ý nói là đưa ra những giả thuyết bạo dạn không bị gò bó bởi những định kiến hay những hiểu biết nhị nguyên sẵn có: năng lượng có thể biến thành vật chất và ngược lại vật chất là một thể dạng của năng lượng, thời gian là chiều thứ tư của không gian. Thật ra cho đến nay chưa có một nhà khoa học nào hay một triết gia nào hiểu được bản chất của thời gian là gì. Người ta chỉ biết đồng hóa thời gian với một chuyển động để « đo » hay « ghi nhận » thời gian thế thôi, tất cả mọi loại đồng hồ mà con người sáng chế đều phải dựa vào một chuyển động nào đó để làm đơn vị. Ông Einstein ghép thời gian vào không gian và cho đó là kích thước thứ tư của không gian.
2- Spinoza là một triết gia vô thần thuộc thế kỷ XVII.
3- Hiện tượng phân cắt hạch nhân tạo ra năng lượng cực mạnh, và đã được ứng dụng để tạo ra điện lực cũng như bom hạch nhân.
4- Chế tạo bom hạch nhân chẳng hạn.
5- Rabelais là người Pháp, sinh năm 1493 (hay 1494 ?), là một nhân vật khá phức tạp, có một cuộc sống thật phong phú, từng là bác sĩ y khoa, văn sĩ, triết gia..., tu theo dòng Françiscain nhưng lại sống với một phụ nữ, sinh được hai con. Sau đó đã đổi sang dòng Bénédictin. Năm 1534 ông được Đức Giáo hoàng Clement VII xá tội. Tháng giêng năm 1537, ông từ bỏ chức vụ cha xứ, nhưng bước sang tháng tư năm đó thì ông qua đời. Ông là một người tôn thờ chủ nghĩa nhân bản và câu phát biểu « Khoa học không lương tâm chỉ là sự phá sản của tâm linh » là một trong những câu nói nổi tiếng nhất của ông.

Bures-Sur-Yvette, 20.10.08
Hoang Phong dịch

Posted by PhuongMai on November 19 2008 21:30:271308 Reads - Print
Tiếng Từ Bi
Tiếng Từ Bi 363
Tiếng Từ Bi 362
Tiếng Từ Bi 361
Tiếng Từ Bi 360
Tiếng Từ Bi 359
Tiếng Từ Bi 356
Tiếng Từ Bi 355
Tiếng Từ Bi 354
Tiếng Từ Bi 353
Tiếng Từ Bi 352
Tiếng Từ Bi 351
Tiếng Từ Bi 350
Tiếng Từ Bi 349
Tiếng Từ Bi 348
Tiếng Từ Bi 347
Tiếng Từ Bi 346
Tiếng Từ Bi 345
Tiếng Từ Bi 344
Tiếng Từ Bi 343
Tiếng Từ Bi 342
Tiếng Từ Bi 341
Tiếng Từ Bi 340
Tiếng Từ Bi 339
Tiếng Từ Bi 338
Tiếng Từ Bi 337
Tiếng Từ Bi 336
Tiếng Từ Bi 335
Tiếng Từ Bi 334
Tiếng Từ Bi 333
Tiếng Từ Bi 332

Xem Tất Cả
Nhạc Hình
Mừng Phật Đản Sanh
Đêm Xuân Nguyện Cầu
Ơn Phật
Rước Đèn Tháng Tám
Dưới Cành Vô Ưu
Đêm Qua Sân...

Xem Tất Cả
Copyright © 2009 Đạo Tâm Web Team