![]() |
||||||||||
|
||||||||||
|
||||||||||
|
| ||||||||||
|
||||||||||
| Tựa Bài | Thể Loại | Tác Giả - Dịch Giả | |||
|
|
|
|||
|
Con về thăm Ba Mẹ Khánh Hoàng |
Xuân đi Xuân đến đã bao lần Chiếu Tuệ |
Con mừng tuổi Phật mấy ngàn năm, Tuệ Kiên |
|
|
Nghiêm Xuân Cường |
|||||||||
|
Mùa xuân đâu chỉ có ở trong cánh hoa, cho nên nếu còn bị vướng vào dáng vẻ bên ngoài người ta dễ bị lạc trong vòng sầu khổ. Thấm nhuần lời Phật dạy, chúng ta thấy xuân chỉ là một ý niệm trong lòng, khi đã an trú trong Tam Bảo rồi thì đó chính là niềm vui của ta, không cần phải phụ thuộc vào bốn mùa biến chuyển. Ý niệm về tuổi và hạnh phúc cũng vậy. Người ta thường do cái hình thức bên ngoài mà xét đoán cho nên cố giữ dáng vẻ trẻ trung của mình bằng y phục, trang sức, thậm chí bằng cả những xảo thuật của y học hiện đại như botox, căng da, hút mỡ, tẩy răng…nhưng tất nhiên đi kiếm hình ảnh của hạnh phúc trong cái vô thường, cái biến đổi từng giây phút là một việc làm vô vọng, như chàng Don Quixote của Cervantes suốt đời đuổi theo và đánh nhau với những cái cối xay gió. Đi kiếm hạnh phúc trong cái hình tướng bên ngoài, ta sẽ dễ dàng mang tâm trạng như một thi sĩ cận đại đã viết: Tôi có chờ đâu có đợi đâu So với cái nhìn của Thiền Sư Mãn Giác quả có khác nhau như đêm ngày. Hạnh phúc và mùa xuân chỉ là một ý niệm trong lòng cho nên đi tìm kiếm cái hạnh phúc ấy ở những cảnh vật ngoại giới người ta chẳng bao giờ được toại nguyện, ví như người khách đi đường xa, nhìn thấy ánh đèn phía trước, định bụng là đến đó thì sẽ nghỉ qua đêm song khi đến nơi thì biết nó chỉ là một ảo tưởng của thị giác. Cũng vậy, con người sống trong một xã hội mà các "nhu cầu" đều do sự giật dây của sự quảng cáo thì không bao giờ hài lòng được bởi hết cần mua cái này rồi lại cần sắm cái nọ, lòng lúc nào cũng ở trong trạng thái "cầu bất đắc" mà cầu bất đắc liên miên thì sẽ khổ liên miên. Cho nên, vướng vào cái hình tướng bên ngoài là một nguồn gốc của khổ đau. Trong Tạng Thư Sống Chết (The Tibetan Book of Living And Dying, Việt dịch Ni Sư Thích Nữ Trí Hải, NXB Thanh Văn, CA 1996) Sogyal Rinpoche thuật lại một giai thoại lý thú về một vị thiền sư, thầy của Ngài. Thường thì ở nơi nào cũng vậy, mỗi đầu năm, như Tết Nguyên Đán ở nước ta, người người tụ họp lại ăn uống, nói cười vui vẻ, chúc tụng nhau bằng những lời hoa mỹ, khách sáo. Chỉ riêng có vị thiền sư này, mỗi lần chứng kiến những cuộc vui như thế Ngài lại ôm mặt khóc. Khi có người hỏi vì sao lại khóc trong ngày tiệc đầu năm, thiền sư trả lời: “ Tôi khóc vì một năm đã qua tức là người người ai cũng già đi một tuổi, nghĩa là bước thêm một bước gần cửa tử sinh, thế mà họ nào có biết, vẫn cứ nhởn nhơ, không lo tu tập mà chỉ vui chơi cho qua ngày đoạn tháng." Phât pháp cho ta cái nhìn vô tướng để không chỉ thấy cái hiện tượng bề mặt mà còn thấy sự tương quan giữa mọi người và mọi vật. Ta đâu có bao giờ nghĩ là những con gấu trắng Bắc Cực (polar bear) là có liên hệ gì đến mình, nhưng nếu chúng bị diệt chủng trong vài thập niên sắp tới vì hiện tượng toàn cầu bị hâm nóng (global warming) thì loài người chúng ta sớm muộn rồi cũng khốn khổ long đong. Người biết an vui thực sự, do đó là người không những biết lo cho mình mà còn lo cái lo chung của mọi người như Đức Đạt Lai Lạt Ma Thứ Mười Bốn nói: “Nếu ta biết kềm chế những động lực ích kỷ trong ta -giận dữ chẳng hạn -và phát triển lòng tử tế và tâm từ cho tha nhân, thì rót cuộc ta sẽ là người được lợi lạc hơn cả. Thành ra tôi vẫn thường hay nói với mọi người là kẻ ích kỷ khôn ngoan (the wise selfish person) phải thực tập như thế. Kẻ vô minh lúc nào cũng nghĩ về mình và kết quả chỉ là tiêu cực, khổ đau. Kẻ ích kỷ khôn ngoan hay nghĩ đến người khác và giúp người bằng hết sức mình và như vậy họ cũng hưởng lợi lạc.” Cũng vậy, Shantadeva, một nhà hiền triết Phật Giáo sống cách đây trên mười hai thế kỷ, có viết: Difference* All the joy the world contains Is there need for lengthy explanation *đề tựa do người viết đặt (trích từ Glimpse After Glimpse, Sogyal Rinpoche, HarperCollins, 1995) tạm dịch: Trầm Luân Có gì đáng nói nữa đâu Nói tóm lại, chỉ cần quan sát một chút ta sẽ thấy rõ ràng là vạn vật nương tựa lẫn nhau trong một lưới liên hệ trùng trùng điệp điệp, cái này có vì cái kia có, cái kia có vì cái này có. Thân thể này chẳng kết hợp bởi tứ đại - đất, nước, gió, lửa - đó chăng? Thiếu bất cứ một thứ nào, dù chỉ là trong khoảnh khắc, mạng sống của ta cũng có cơ lâm nguy. Một phim đang được trình chiếu tại các rạp tại Bắc Mỹ từ Giáng Sinh 2006- Charlotte's Web (Lưới Của Charlotte) -nói về tình bạn giữa chú heo con (Wilbur) và cô nhện khôn ngoan (Charlotte) trong một nông trại. Nhờ sự can thiệp của cô nhện Charlotte mà người chủ nông trại thấy được giá trị của chú heo con Wilbur và không giết thịt nó. Kết quả là Wilbur thắng giải thưởng đặc biệt (Governor's Prize) trong một kỳ triển lãm nông phẩm và người dân trong vùng tự nhiên thấy cuộc sống của mình quan trọng hơn, tươi đẹp hơn. Thế nên, chìa khóa của hạnh phúc bền lâu, của một mùa xuân bất tận nằm trong cái nhìn bao quát, không vướng vào cái hời hợt bề ngoài, cũng như trong cách sống ung dung tự tại, đem lại lợi ích cho mình, cho người. Xuân của đất trời sẽ mãi mãi còn tươi mới khi tâm ta đã thực sự bình an. Xin mượn bốn câu thơ tuyệt tác của cố thi sĩ Huyền Không tức Hòa Thượng Thích Mãn Giác (1929-2006) thay cho lời kết : Ô hay xuân đến bao giờ nhỉ ? 01-30-2007
|
|||||||||
|
|
||||
Cúng Đại Bàng là một nghi thức quan trọng trong lễ cúng Quả Đường mỗi buổi trưa ở các tự viện theo truyền thống Phật Giáo Đại Thừa, đặc biệt là mùa An Cư Kiết Hạ hằng năm. Theo lời thuật lại trong khế kinh, ngày kia Đức Phật đi du hóa gặp một con chim Đại Bàng bắt các loài chim nhỏ ăn thịt. Chim Đại Bàng này có chiều kích rất lớn, mỗi lần há miệng, một hơi hút của nó chiếm một phạm vi nhiều cây số, tất cả các loài chim nhỏ đều bị cuốn hút vào miệng nó. Thấy việc sát sanh quá nhiều nên Đức Phật đã từ bi giáo hóa. Ngài dạy rằng “tất cả chúng sanh đều ham sống sợ chết, do đó chớ giết và chớ bảo giết ”. Chim Đại Bàng tự nghĩ: “thực phẩm hằng ngày của mình là thịt sống của các loài chim, nay Phật không cho ăn, lấy gì để nuôi thân mạng này ”. Phật dạy: “từ đây về sau ngươi về chùa nào gần nhất để quý Tăng Ni cho ăn ”. Tương tự như nghi thức cúng cháo Mông Sơn Thí Thực buổi chiều (sẽ được đề cập vào một dịp khác), nghi thức cúng Đại Bàng buổi trưa được phát xuất từ đó, và hơn hai ngàn năm nay truyền thống này vẫn tiếp tục gìn giữ và duy trì. Có người thắc mắc rằng, sao chỉ cúng bảy (7) hạt cơm, có thể làm no đủ loài đại bàng, và 7 hạt cơm có thể thay thế được thịt sống? Theo như trong bài kệ ghi rằng : Nhớ lại thời gian hành điệu, làm thị giả, cúng Đại Bàng là thời gian hồn nhiên, đẹp đẽ ghi sâu vào tâm khảm tôi; hình ảnh tuổi thơ an bình, hiểu biết ngây ngô tình đạo, tình ân sư, huynh đệ. Tất nhiên nhiều khi vẫn nhớ nhà, nhớ mẹ, nhưng nỗi niềm nào cũng đến và đi thật mau trong lứa tuổi ngây thơ bấy giờ. Nhờ vậy mà tôi không thấy có sự khác biệt cách ly giữa tình ân sư và tình thân huyết nhục. Hôm nay nhớ lại quê nhà, nhớ lại kỷ niệm xưa, ghi lại vài nét hành điệu của những tháng ngày đồng chơn nhập đạo, khiến tôi không khỏi xúc động bồi hồi. Tôi được Sư Phụ gởi xuống làm thị giả cho Hòa Thượng Trí Nghiêm & Hòa Thượng Thiện Siêu trong các mùa An cư Kiết Hạ từ những năm 81 đến năm 1984 tại Chùa Hải Đức, Nha Trang. Chùa Hải Đức từng là Phật Học Viện Trung Phần, nơi đào tạo các bậc tăng tài cho PGVN do Cố Hòa Thượng Trí Thủ khai sáng, do vậy sau 1975, có nhiều Thầy còn lưu lại nơi này. Lúc ấy tôi nhớ có Ôn Từ Đàm, Ôn Trừng San, Thầy Phước An, Thầy Phước Quảng, Thầy Phước Lượng, Thầy Chánh Lạc, Thầy Huệ An, Thầy Trí Viên, Thầy Thiện Vinh, Thầy Minh Châu, Thầy Minh Thông, Thầy Chơn Trí, Thầy Thiện Tu, Thầy Nguyên Quang… về Sa di thì có Chú Phượng, chú Pháp Đăng... về phía Chùa Long Sơn thì có Ôn Trí Nghiêm (Hoàng Trúc Am trên đồi Trại Thủy trong khuôn viên chùa Long Sơn), Ôn Đỗng Minh, Ôn Chí Tín, Ôn Thiện Bình, Thầy Thanh Hương, Thầy Đức Bổn, Thầy Chí Nguyện… và các chùa lân cận có quý Thầy về tùng hạ tại Hải Đức trong các mùa hạ ấy có Thầy Thiện Hữu , chú Lâm từ Chùa Phước Điền, Thầy Chí Viên, chú Hải từ Chùa Núi (Linh Phong), Thầy Đức Thành từ chùa Hương Sơn (ngoài Đồng Đế) và sư phụ tôi là Thầy Tâm Trí (Chùa An Dưỡng, Vĩnh Thái)… cảnh trí nơi núi đồi Hải Đức này thật hùng vĩ, cây cối rợp bóng xanh tươi, nhất là con đường đất từ Chùa Long Sơn dẫn đến Chùa Hải Đức luôn phủ một màu đỏ của hoa phượng vĩ giữa mùa hè. Năm đầu tiên tôi được dạy đến trình diện Ôn Trừng San, Trụ Trì Chùa Hải Đức, Ôn là một bậc danh tăng giới đức của PG Khánh Hòa; Ôn có người em ruột cũng xuất gia tu hành và đang làm trụ trì Chùa Nghĩa Trũng ở Diên Khánh, Khánh Hòa. Ôn Trừng San tướng người cao lớn và đẹp đẽ, Ôn giỏi về nghi lễ, mặc dù là người Khánh Hòa nhưng lại nổi tiếng trong khoa nghi chẩn tế theo truyền thống Huế. Ôn bảo tôi hô Đại Bàng nghe thử, tôi liền bắt ấn cam lồ đưa lên trán và bắt đầu hô:
Ôn nghe xong lắc đầu vì tôi hô tệ quá. Sau đó Ôn chỉ dạy luyện giọng cho tôi, cuối 3 câu đầu phải lên giọng, cuối câu thứ 4 phải xuống giọng, câu thần chú phải hô đúng 7 lần và phải ngắt ra làm 3 lần, 2 lần đầu mỗi lần 3 biến, và lần ba 1 biến, kéo dài ra và xuống giọng. Khi thử hô vài lần, Ôn Trừng San hoan hỷ gật đầu và thế là tôi trở thành thị giả tống thực trong suốt bốn năm sau đó tại Chùa Hải Đức. Cứ mỗi trưa, tôi giữ trách nhiệm lo chén súc sanh, đánh khánh, cúng đại bàng và làm thị giả cho hai Ôn Trí Nghiêm và Ôn Từ Đàm (HT Thiện Siêu). Thỉnh thoảng tôi được đi làm thị giả cho Ôn Trí Nghiêm ở Ni Viện Diệu Quang, Chùa Kim Quang hoặc Chùa Tỉnh Hội Long Sơn để hô đại bàng, rồi tôi cũng có dịp hầu quả đường và hô đại bàng khi Ôn Hưng Từ (từ Phan Thiết) ra cúng ở Nha Trang. Thông thường, công việc làm thị giả và hô đại bàng của các chú tiểu hoặc các vị mới xuất gia. Từ ngày xuất gia đến giờ tôi được nghe rất nhiều chú tiểu hô đại bàng, có người hô rất hay, nhưng có người hô nghe không được, cũng có người chế biến cách hô nghe rất lạ (có người hô 4 câu đầu đến 3 lần). Từ ngày ra hải ngoại đến nay, tôi cũng được nghe nhiều vị mới xuất gia hô đại bàng, nhưng vào năm ngoái, trong khóa An Cư tại Tu Viện Quảng Đức, chú Hạnh Đức (đệ tử của Thượng Tọa Như Điển) hô đại bàng rất hay, đúng giọng điệu và rõ ràng. Trên đây là một chi tiết rất nhỏ trong sinh hoạt thiền môn, nhưng nếu tinh tế để ý quán xét, chúng ta thấy bậc giáo chủ của Đạo Phật dùng nhiều phương tiện độ sanh ngoài sức nghĩ bàn của phàm tình thế nhân. Lòng từ bi của đức Phật tỏa rộng khắp vạn loại sanh linh, kể cả trời mây, non nước, cỏ cây, hoa lá… truyền đạt cho hàng đệ tử xuất gia hành trì, do vậy là đệ tử của Đức Như Lai không thể không thực hiện được hạnh từ bi, lợi tha của bậc đại giác Thế Tôn. Viết tại Trường Hạ Phổ Quang, Perth 7/2005
|
|
|||||||||
|
Sáng chủ nhật là buổi thuyết pháp của sư tại Thiền Viện Vạn Hạnh. Cuối buổi giảng, tôi chập chững trên đôi chân giả vừa mới gắn xong đến đảnh lễ sư với nét mặt u sầu thảm não: - Sư ơi, đôi chân của con đã mất rồi, kể từ bây giờ suốt đời con phải đi bằng hai chân giả. Với những giọt nước mắt chực trào ra, những tưởng sư sẽ xoa đầu tôi, an ủi, vỗ về: “Thôi, con đừng buồn nữa, cuộc đời là vô thường mà!”. Nhưng không, với nụ cười tràn đầy tình thương nở trên môi, sư nhìn tôi rồi nhẹ nhàng nói: - Ồ, con chỉ có hai chân giả thôi sao? Con nhìn xem toàn thân sư đều là giả đó thôi! Ngay lập tức, tôi bừng tỉnh. Như một ánh chớp lóe lên, lời kinh Bát Nhã mà tôi đã tụng hàng trăm lần bỗng trở nên sống động lạ lùng: “... Xá Lợi tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh, bất diệt...”. Phải rồi, chỉ tại tôi mắc kẹt vào cái “tướng” của mình nên mới “ôm sầu thiên thu” như vậy! Cú “giải huyệt” tuyệt chiêu của bậc chân sư đã chỉ ra cho tôi lối thoát hiểm, cất đi cái gánh nặng ngàn cân đang đè nặng trong lòng tôi. Kể từ lúc đó, đôi chân giả nặng 3 kg bỗng trở nên nhẹ tênh. Và tôi đã cất bước hòa nhập vào cuộc sống mà có lúc tôi ngỡ mình đã bị gạt ra ngoài lề. Từ đó, nhiều lúc tôi đã quên khuấy đi mất là mình đang sử dụng chân giả. Có lần tôi cứ vô tư sải bước cùng bạn bè trên bờ sông lộng gió. Mãi đến lúc tôi ngồi xuống tháo chân giả ra cho nó “xả hơi” thì mấy đứa bạn mới giật mình: “Trời ơi, nãy giờ tụi tao quên mất, cứ nghĩ mày cũng bình thường như tụi tao!” Thế mới biết, cái gánh nặng thật sự không nằm ở những thứ vật chất hữu hình. Khi mình đã xua tan đi đám mây u ám trong lòng rồi thì biết bao điều kỳ diệu sẽ đến. Trong một đêm liên hoan văn nghệ với những người bạn khuyết tật, điều kỳ diệu đã xảy ra. Khi giai điệu của một bản tango trổi lên, đôi chân tôi dường như không chịu ngồi yên nữa. Các bạn đồng môn trong khoa ngoại ngữ Trường Đại Học Sư Phạm ai cũng biết cái chứng “ghiền” khiêu vũ của tôi, vậy mà bây giờ... Tôi đánh liều đứng lên, ra dấu cho một bạn vũ công ở Trường Khiếm Thính Hy Vọng I cùng tôi bước ra sàn. Chỉ lọng cọng một chút để bắt nhịp, rồi thì... chúng tôi lướt đi trong điệu tango nhịp nhàng và tiếng reo hò cổ vũ của mọi người. Anh bạn nhảy của tôi không hề nghe được một nốt nhạc nào cả - không sao, tôi là người giữ nhịp cho bạn ấy. Còn tôi, đôi chân loạng choạng, nghiêng ngả - cũng chẳng sao, cánh tay vững chắc của bạn ấy giữ thăng bằng cho tôi. Cứ thế, chúng tôi hòa vào điệu nhạc với những bước nhảy nhẹ nhàng, uyển chuyển. Trọng lượng 3 kg của đôi chân giả bỗng trở thành con số 0. Tôi không khiêu vũ bằng đôi chân nữa mà cả tâm hồn đang bay bổng, vượt ra khỏi cái thân xác hữu hình này. Thế rồi khán phòng trở nên sôi động hẳn lên bởi sự xuất hiện của nhiều gương mặt nữa. Anh chàng chủ tịch Hội Thanh Niên Khuyết tật Huỳnh Công Sơn lắc lư nhịp nhàng với màn “khiêu vũ trên xe lăn”, thỉnh thoảng còn biểu diễn một cú “te” điệu nghệ bằng hai bánh sau nữa chứ! Tất cả chúng tôi - với khiếm khuyết trên thân thể mình - đều hòa vào điệu nhạc. Gương mặt người nào cũng sáng bừng niềm hân hoan trong tiếng cười vui rộn rã. Tôi ngộ ra rằng khi cái chân thật không còn là chân thật nữa thì mình mới tìm thấy cái chân thật trong cuộc đời. Bất giác, tôi thầm gọi: “Sư ơi...”. Nguyễn Hướng Dương |
Minh họa: Hoàng Tường |
||||||||
|
|
|
|
|
|
||||
|
Gia đình anh Tư Lành thật tình có hai phe phái. Một phe Thiện gồm có chị Bông – hay đúng ra phải gọi là chị Tư Lành vì chị là vợ của anh Tư Lành - thằng Long và bé Ly, là hai đứa con một trai một gái của anh chị Tư. Và phe bên kia là phe Ác gồm có anh Tư Lành, ông thân sinh của anh Tư, chị Hai Lụa và chị Ba Tơ, là hai người chị ruột ở giá không có chồng của anh Tư, đã về chung sống với vợ chồng anh từ mấy năm nay. Số là Tư Lành mồ côi mẹ từ lúc anh mới có 2 tuổi, chiến tranh bùng nổ trong thị trấn nhỏ miền Trung nước Việt nơi gia đình anh sinh sống, một trái hỏa tiễn định mệnh bay lạc vào nhà và đã cướp mất đi người mẹ thân yêu của anh, bố anh lúc ấy cũng đang trong quân đội, đóng ở chiến địa xa nhà, chỉ có bốn mẹ con sống lây lất qua ngày với đồng lương tối thiểu quá ít ỏi của bố gởi về, gia đình anh nghèo xơ nghèo xác. Khi đạn pháo kích vào nhà giết chết người mẹ, ba đứa trẻ mồ côi - chị Hai Lụa lớn nhất lúc ấy cũng chỉ có 9 tuổi - được làng xóm kéo theo phái đoàn đi tị nạn vào miền Nam, hai chị thay phiên nhau cõng Tư Lành trên lưng đi theo đoàn người di tản. Thế rồi sau đợt chiến đó, là đến biến cố 30 tháng tư, ông thân của anh Tư bỏ súng đạn về lại quê nhà tìm vợ tìm con, thì hỡi ơi, ông được tin vợ đã chết, và con thì bị thất lạc đâu không ai hay biết. Đang hỏi han làng xóm chưa tìm thấy tông tích của con cái đâu, thì đã có lệnh đi tù cải tạo, thế là 10 năm trong tù ông chịu bó tay, mất hết hy vọng tìm lại được những đứa con thân yêu. Trong khi đó ba đứa trẻ giờ mồ côi cả cha lẫn mẹ, được người hàng xóm cưu mang trong thời gian chạy loạn, nhưng rồi gia đình người ta cũng đông con, không thể nào gánh vác thêm ba miệng ăn nữa, nên khi có một cơ quan thiện nguyện do một phái đoàn các sư cô đến giúp đỡ số người tị nạn, người hàng xóm tốt bụng này giao lại ba đứa trẻ mồ côi cho vị ni sư đem về lo lắng giùm. Thời loạn lạc chiến tranh, chuyện gia đình ly tán, mất mát cũng là chuyện thường tình thôi. Ba chị em Tư Lành cũng còn cái diễm phúc là được ni sư đưa về nuôi nấng trong cô nhi viện cùng với hơn 30 đứa trẻ mồ côi khác, mấy chị em cũng còn có nhau, cho dù thiếu thốn thèm khát đủ mọi bề. Chị Hai Lụa trong thời gian này bị ảnh hưởng cái khủng hoảng tinh thần trầm trọng nhiều hơn hai em nên trở thành dở điên dở khùng, cười cười khóc khóc, nói lảm nhảm một mình cả ngày cả đêm, và nếu có ai đụng đến chị là chị nổi quạu, gặp cái gì là phang cái đó, ai đứng sớ rớ gần chị là bị vạ lây, nên thường bị nhốt riêng một nơi xa với đám trẻ khác, riết rồi chị thành người lầm lầm lì lì sống trong thế giới riêng tư của chị. Tư Lành lúc đó mới có 2 tuổi, và chị Ba Tơ thì 6 tuổi, cái tuổi còn quá ngây thơ để hiểu biết chuyện đời mình, để đau khổ, để thương thân trách phận, nên cuộc sống cũng có phần ổn định trong cô nhi viện nhờ vào một chút tình thương của những sư cô dày công nuôi nấng, dạy dỗ. Thế rồi ngày qua ngày, Tư Lành cũng lớn lên trong hoàn cảnh một đứa trẻ mồ côi thiếu tình thương, thiếu sự săn sóc tinh thần lẫn vật chất. Nhưng Tư Lành cũng biết an phận thủ thường, anh rất ngoan ngoãn vâng lời các Cô, hòa đồng với chúng bạn, học hành thì chẳng đi đến đâu, kinh kệ thì rất là biếng nhác giải đãi, nhưng được cái anh cần cù siêng năng làm những công việc được giao phó một cách cần mẫn, lúc nhỏ thì những công việc nhẹ nhàng trong cô nhi viện như lau chùi, quét dọn, lớn lên thì đến việc đồng áng, khuân vác, xây cất, phụ trông nom những trẻ mồ côi mới bị cha mẹ đem đến vất vào cửa chùa v.v… Tướng mạo Tư Lành thì thật ra cũng không đến nổi khó coi, anh vạm vỡ to lớn bắp thịt lực lưỡng như một lực sĩ, da ngăm đen vì giãi dầu sương nắng, trông như một tượng đồng, tính tình thì rất là hòa nhã, ăn nói nhẹ nhàng, niềm nở với mọi người. Và ngoài cái tính nết hiền hòa anh còn có cái duyên ăn nói thu hút người nghe với những mẩu chuyện vui nên những lúc trưa nghỉ ngơi sau giờ làm việc đồng áng, bạn bè hay xúm lại nghe anh kể chuyện tiếu lâm. Chị Bông là một cô gái gia đình khá giả, có chút ít ruộng nương trong làng, chị hay theo mẹ vào làm việc phước thiện trong cô nhi viện, một vài lần chị Bông giúp các chị em mang cơm ra đồng cho các anh ăn, một vài lần vô tình nghe được những mẫu chuyện vui anh Tư Lành kể cho bạn bè, một vài lần kín đáo nhìn trộm người con trai mới lớn, một vài lần như thế thôi… nhưng không hiểu sao, lòng chị bỗng buồn buồn nhớ nhớ. Chị biết mình nhớ ai, chị biết cái tiếng sét ái tình nó đã đánh ngang đầu chị, chị thích vào chùa giúp mấy sư cô thường hơn, lâu lâu trong lúc làm việc chị Bông lại nhìn ra đồng ruộng mênh mông, nhìn những cánh cò bay, nhìn những ngọn lúa chín rồi thở dài thương nhớ. Chị biết anh Tư Lành mồ côi, nhà nghèo, không học vấn, vốn liếng vỏn vẹn những bài kinh kệ rải rác đây đó, học được từ quý sư cô, nhưng sao hắn có cái gì đó thu hút hồn chị quá chừng chừng, làm chị cứ ngẩn ngơ thương nhớ. Nhưng gia đình chị ba mẹ rất nghiêm nghị nên chị Bông chỉ biết thẩn thờ buồn mang mác vậy thôi chứ chẳng dám hé môi tâm sự với một ai. Còn Tư Lành thì từ lần đầu gặp chị Bông, hắn nhìn chị sững sờ, gái đồng quê mà được cái quần lãnh, cái áo lụa, và cái khăn hồng trang sức thêm thì trai nào mà chẳng chết ngấm chết ngầm. Chị lại con nhà có chút của, không dầm mưa dãi nắng nên da trắng như bông bưởi, má hồng như đánh phấn, môi đỏ như thoa son, vì vậy mà anh Tư Lành mê mệt chị Bông lắm nhưng cũng biết phận mình nghèo nên không dám trèo cao… Nhưng chuyện duyên số ai biết cho được. Một hôm chị Bông đi lễ chùa về chỉ có một mình, Tư Lành cũng từ ruộng đồng tay chân lấm bùn, mặt đổ mồ hôi nhễ nhại đang đạp chiếc xe đạp cũ lắc bên sau còn chất chứa nào là cuốc xẻng, xà beng, nào là rổ thúng, giỏ xách. Chị Bông thấy từ xa xa đã định cúi mặt che nón đi thẳng, tim thì đánh thình thịch tưởng như bể lồng ngực chị luôn. Chuyện chắc cũng chẳng có gì nếu Tư Lành không bạo miệng vừa nói “chào cô Bông” vừa dừng xe bên vệ đường, giơ tay áo lau mồ hôi, chiếc xe đạp nặng ký đằng sau mất thăng bằng ngã chúi xuống ruộng, kéo theo anh Tư và rổ thúng cuốc xẻng kêu cái bõm xuống ruộng lúa đầu mùa có nước bùn xâm xấp. Anh Tư Lành vừa lóc ngóc bò dậy, vừa vuốt mặt chùi đi lớp bùn dính từ trên xuống dưới, vừa nhìn chị ngặt nghẽo cười trừ, còn chị Bông thì luống cuống hết nghĩ đến thẹn thùng, chạy nhanh qua giúp kéo anh lên. Thế rồi việc gì đến nó đã đến, chả biết anh Tư Lành nói chuyện duyên dáng tấn công chị Bông thế nào, mà cuối cùng sau một thời gian ngắn chị cuốn gói theo làm vợ anh Tư Lành không trầu cau, cưới hỏi, đưa dâu đón rể gì hết ráo, mặc cho bà chủ ruộng mẹ chị Bông kêu nài van xin năn nỉ con gái. Cả quận cả làng cả cô nhi viện nhao nhao như tổ ong bầu trước cơn mưa vì tin sét đánh đó, nên vợ chồng Tư Lành phải bỏ xứ tha phương cầu thực. Lên đến một tỉnh lỵ xa xôi lập nghiệp, không Bông sang được một sạp vải với số tiền nhỏ nhoi mang theo, bán buôn ngoài chợ kiếm sống. Còn anh Tư Lành không biết nghe theo bạn bè xúi giục sao đó, đã trở thành một tên đồ tể chuyên nghề giết heo cho một lò thịt. Lúc này chị Bông đã mang thai, chị khóc lóc nài nỉ van xin chồng bỏ cái nghề mang nặng nghiệp báo đó, chị lý lẽ khuyên răn giải thích cho Tư Lành, nhưng cũng chỉ như đàn khẩy tai trâu mà thôi. Từ một đứa mô côi nghèo xơ nghèo xác cả đời, sống nhờ ở đậu, giờ anh khấm khá có nhà cửa có xe cộ, sức mấy Tư Lành chịu nghe ai. Thậm chí anh có cả khả năng đón chị Hai Lụa và chị Ba Tơ từ cô nhi viện đưa về ở chung và lo việc cấp dưỡng nuôi nấng hai chị và anh bỏ biết bao nhiêu tiền và thời gian ra công dò tìm tông tích ông thân sinh của anh, lúc này đã ra khỏi tù, đang đạp xích lô kiếm sống trên Sàigòn đưa về đoàn tụ gia đình. Anh Tư Lành lý luận là cái nghề ác ôn này của anh theo con vợ anh nó nói, nhưng nó giúp anh làm đuợc những việc nhân nghĩa, giúp hai chị, giúp cha anh, giúp cả cô nhi viện và quý sư cô bằng cách anh vẫn gởi tiền nặc danh về cô nhi viện đều đều hằng tháng…. thì chắc nghiệp của anh chắc cũng không đến nỗi nào. Nên anh cứ tiếp tục công việc giết heo, còn đưa cả ông thân sinh vào xin việc làm trong hãng nữa. Ngày ngày đi làm, tối tối cha con còn mời bạn bè dân chuyên nghề bán thịt về ăn nhậu say sưa, ồn ào, náo nhiệt. Hai cô chị của anh Tư Lành cũng gia nhập cuộc vui của người ngày xưa, không tiền giờ tự nhiên trời cho, sao không thụ hưởng. Nhưng Tư Lành không ngờ là cái nghề đồ tể của anh nó đã ảnh hưởng đến cuộc sống của những người thân của anh quá sức như vậy, từ đó gia đình anh chị Tư Lành, như nói ở trên, chia ra làm hai phe – Phe Thiện và Phe Ác. Anh Tư Lành đứng ở giữa nhưng phần nhiều thiên về phía Phe Ác nhứt là những lúc xỉn xỉn, ngà ngà cơn say. Và rồi chị Bông sinh được thằng con trai kháu khỉnh, tức là thằng Long, chị không rời con nữa bước, chị cố dạy dỗ con trở thành người lương thiện. Hai năm sau chị sinh được thêm một bé gái tức là bé Ly, hai đứa trẻ chắc là cũng có chủng tử Bồ Đề sao đó, nên chỉ quấn quít bên mẹ, ba mẹ con ăn chay trường, tụng kinh niệm Phật, đi chùa làm công quả. Chị dạy con sống hài hòa với bố, với ông nội, với hai bác cho dù trong gia đình lúc nào cũng có chiến tranh lạnh. Chị cương quyết giữ vững lập trường chống lại cái nghề sinh nhai ác ôn của chồng cho đến khi nào Tư Lành cải tổ hoàn lương. Tối tối trong khi Phe Ác nhậu nhoẹt ăn uống ngoài phòng khách thì mẹ con chị vào phòng tụng kinh lạy Phật, rồi đi ngủ. Trong khi bố chúng nó đi làm một tuần lễ giết cả trăm con heo thì thằng Long, con Ly tung tăng theo mẹ lên chùa nghe sư ông Bửu Đăng thuyết pháp và làm công quả. Như có sẵn nghiệp tu và căn lành, thằng Long say mê Phật pháp và học kinh rất nhanh. Nó không thích theo bạn chơi đùa, lúc đến tuổi đi học, thì tan trường là thằng bé đi bộ qua chùa vì trường học cũng kế cạnh bên chùa Liên Hoa, rồi ở đó chờ mẹ lên ruớc về. Nó phụ sư ông tưới cây, bắt sâu, trồng hoa ngoài vườn, nó thủ thỉ xin với sư ông mai mốt nó lớn lên cho nó đi tu. Bé Ly thì còn bé chưa hiểu gì, nhưng cũng quanh quẩn bên mẹ tối ngày, thấy anh đọc kinh thì cũng bập bẹ Mô Phật theo. Chiến tranh lạnh ở nhà chị Bông lâu lâu cũng bùng nổ thành nóng hổi, như có một lần trong lúc mấy mẹ con đi chùa thì Phe Ác đập phá bàn thờ, quăng nhang đèn vào thùng rác, ngâm tượng Phật trong lu nước mưa, v.v… cả những lọ tương chao của ba mẹ con cũng bị ô uế trộn chung với đồ mặn. Chị Bông thừa biết thủ phạm là ai nhưng chị vẫn nhịn nhục âm thầm lau chùi dọn dẹp. Bây giờ không còn bàn thờ Phật thì mấy mẹ con ngồi xuống dưới đất, trong phòng mấy đứa bé chắp tay tụng kinh dễ dàng thôi. Cũng có lần thằng Long bị bố lôi ra bắt ăn cơm mặn, nó sợ sệt trợn mắt nuốt ực miếng thịt nhưng rồi oẹ ra ói mửa tùm lum đầy trên áo, anh Tư đè thằng bé đánh cho một trận, bắt ăn hết chén cháo lòng. Nó vừa nhắm mắt nhắm mũi tay chân run rẩy, nuốt được mấy muỗng cháo, nó ráng bụm miệng nhưng rồi cũng ọe ra cho bằng hết cả mật xanh mật vàng cũng ói ra luôn. Chị Bông xoa thuốc bóp dầu xức lên những vết roi cho con, vừa nhỏ nhẹ khuyên răn dạy dỗ con: “Con nhớ Đức Phật dạy mình phải hiếu thảo với cha mẹ. Sống ở đời mình sống theo đạo hạnh của mình thôi đừng mong người khác làm thuận theo ý mình, vì được thuận theo ý mình thì hay sinh ra kiêu căng. Ngày xưa lúc Phật còn tại thế, trên đường hành đạo của Ngài, Đức Phật đã bị biết bao nhiêu ma vương quấy phá, vu khống, chỉ trích, nhưng Ngài đã vượt qua tất cả nhờ lòng từ bi độ lượng của Ngài. Cho nên Cha con hay ông Nội có chống mấy mẹ con mình, thì mình càng phải vững tâm tu niệm, cầu nguyện cho Cha con và ông Nội được hóa giải. Mẹ biết chắc chắn sẽ có ngày Cha con sẽ hồi tâm quay đầu.” Thằng Long cười méo xẹo cái miệng trả lời: “Dạ con thương Cha ghê lắm Mẹ à, giờ mình lạy Phật mẹ nhé.” Cuộc chống đối của Phe Ác vẫn tiếp tục lâu lâu bùng nổ, chị Hai Lụa với chị Ba Tơ lên chùa chờ cơ hội đông người đang nghe giảng để cự nự với Sư Bửu Đăng: “Thầy dụ dỗ con nít, nó năm bảy tuổi biết gì mà ăn chay đi tu, tụi tui đi thưa thầy à nghe.” Sư ông bình thản nói với đại chúng chắp tay niệm Phật cầu cho hai bà đừng vọng ngôn nữa, và biết hồi tâm theo Phật. Rồi sư ông kể câu chuyện ngày xưa khi Phật còn tại thế, có một số người Bà La Môn đến kiếm chuyện chửi bới Phật và tăng đoàn, khi họ chửi xong đã đời rồi Phật mới ôn tồn hỏi họ: “Này các ông Bà La Môn, nếu có ai đem tặng phẩm đến cho các ông mà các ông không thích, không muốn nhận thì các ông làm sao?” Các ông Bà La Môn nhốn nháo lớn tiếng trả lời: “Thì vứt nó vào thùng rác, quăng nó xuống ruộng, hay trả lại họ, biểu họ đem về.” Phật từ tốn nói: “Vậy thì các ông hãy mang những lời chửi mắng đó về đi, vì Như Lai không muốn nhận.” Nghe sư ông nói đến đây hai chị bẽn lẽn thấy mình vô duyên nên lẳng lặng âm thầm tháo lui. Nhưng vẫn còn tức vì không biết sao ông thầy và chị Bông vẫn bình thản ung dung được lúc hai bà kiếm chuyện phỉ báng chửi mắng họ. Còn anh Tư Lành thì chưa bao giờ trong đời anh gặp đối thủ nào “lì đòn” như mụ vợ và thằng con anh. Tại sao cả hai chẳng có phản ứng, chẳng trả thù, chẳng khóc lóc chửi bới than vãn, mà chỉ toàn tụng kinh và niệm Phật? Nhưng Phe Ác nào có biết là mẹ con chị Bông đang phản ứng mãnh liệt đó chứ, vì họ đã dùng Đại Hùng, Đại Lực, Đại Từ Bi để chuyển hóa gia đình, chứ không dùng bạo lực, tranh chấp, hơn thua chỉ tổ gây ra thêm thù hận mà thôi. Phật dạy đem lòng bi mẫn trải khắp đến mọi người, kể cả những kẻ đã mang lại cho mình phiền não. Thế rồi một hôm ông già của anh Tư Lành ngã bệnh kỳ quái, bỏ ăn bỏ ngủ, bao nhiêu lang y đến chữa trị đều bó tay chẳng khám phá ra được là ông mắc chứng bệnh gì, chỉ lâu lâu ông ôm bụng quằn quại dưới sàn gạch, kêu la đau đớn, rồi trong cơn đau quằn quại đó, ông bò hai chân hai tay loanh quanh cùng nhà, miệng thì gào thét rên rỉ, không ai hiểu được những tiếng gào thét đó nhưng nếu nghe văng vẳng tiếng kêu la của ông từ xa người ta cứ tưởng chừng như tiếng heo đang bị thọc tiết, rồi ông ói ra từng vũng máu, mắt lờ đờ, miệng rên rỉ “Tha tui đi, tha tui đi”. Được 10 ngày thì sau một trận quằn quại như thế, ông bất tỉnh nhân sự luôn. Anh Tư Lành vực ông lên giường… Thương cha, anh ngồi cả đêm bên cạnh, mắt mở thao láo canh chừng, trong lúc chị Bông lo lau chùi dọn dẹp, miệng không ngớt niệm Phật cầu nguyện cho ông. Anh Tư Lành bắc ghế ngồi bên cạnh giường cha như thế cho đến khoảng 3 giờ sáng, anh mệt lả người nên gục xuống thiếp đi, trong giấc mơ kinh hoàng anh thấy một đàn heo trắng đang rúc rỉa thịt xương, móc mắt banh miệng ông già anh, con nào con nấy mập ú, mắt long lanh, miệng con nào cũng dính máu me đỏ tươi, anh ú ớ muốn chạy lại đuổi chúng nó đi, nhưng sao kỳ lạ thiệt, anh không tài nào nhúc nhích được, cả thân người anh như cứng thành tảng đá… trong khi đó bầy heo vừa làm thịt xong ông già anh, có con còn đang liếm mồm liếm mép hả hê, con thì ợ lên một tiếng thú vị… bổng chúng nó nhận ra sự hiện diện của anh… anh hoảng hốt la lên một tiếng thất thần rồi bừng tỉnh dậy, mồ hôi nhễ nhại ướt đẫm lưng áo, tim đập thình thình như tiếng trống chầu… ồ thì ra chỉ là một cơn ác mộng… ông già anh đã trút hơi thở cuối cùng từ hồi nào rồi, một vũng máu còn tươi hộc ra từ miệng ông đã có mùi tanh hôi. Anh Tư Lành chạy lại bàn thờ của chị Bông – bây giờ trông thật tang thương, chỉ còn tượng Phật gẫy tay - vớ lấy ba nén nhang thắp lên rồi vái lạy lia lịa tứ phía. Mỗi lần mệt mỏi chợp mắt, là cơn ác mộng lại trở về, Tư Lành hết dám nhắm mắt lại ngủ, hắn nằm co quắp trong xó nhà chờ trời sáng… đầu óc hắn nghĩ ngợi mông lung… ô hay, cái thằng Tư Lành trong đời chưa biết sợ ai bao giờ mà hôm nay thiếu điều xanh mặt, cái thằng coi trời bằng vung, coi ông Phật như một kẻ thù làm chia rẽ gia đình hắn, hôm nay cũng biết thắp nhang khấn vái, không phải là để cầu cho ông thân vãng sanh gì đâu, nhưng chắc là cho bầy heo trắng oan nghiệt đừng về ám ảnh hắn nữa. Hắn nhớ mang máng hồi nhỏ có lần nghe mấy sư cô giảng về nhân quả gì đó, hắn chỉ nhớ là mấy sư cô có nói mình làm chuyện bậy không lương thiện thì bị quả báo vậy thôi. Lạ lùng thay “cục đá” bây giờ cũng bắt đầu mềm rồi. Không mềm sao được khi thấy cha mình quằn quại y hệt con heo sắp sửa bị thọc tiết, rồi bầy heo kéo về báo thù, cơn ác mộng đó sẽ còn oằn hoại đeo đuổi hắn không biết cho đến bao giờ. Hắn sợ toát mồ hôi… Sáng ra chị Bông xin phép chồng lập một bàn thờ Phật nhỏ để tụng kinh cầu siêu cho ông già, Tư Lành làm thinh. Sự im lặng này mang rất nhiều ý nghĩa, vừa xấu hổ, vừa mặc cảm, vừa thỏa thuận. Chị Bông, thằng Long và con Ly thay phiên nhau tụng kinh, lát sau hắn thấy chị Ba Tơ rồi chị Hai Lụa cũng ra quỳ mọp đàng sau lưng vợ con hắn, vừa khóc thút thít, vừa lấm lét nhìn coi phản ứng của hắn ra sao, hắn cũng làm lơ. Chắc là cầu nguyện cho ông già thì ít mà là cầu nguyện cho mình đừng bị đau đớn chết chóc một cách thảm thương như thế thì nhiều hơn. Chị Bông lo sắp xếp hết các việc ma chay, chôn cất bố chồng, đứng ra lo hết mọi việc đúng bổn phận người vợ hiền, dâu ngoan. Sau ngày đưa đám, chị ôm hình ông thân sinh của chồng đến bên Tư Lành nhỏ nhẹ xin phép mang hình ông lên chùa để thầy cúng thất, cầu cho ông sớm vãng sanh về cõi cực lạc. Lần này Tư Lành cầm tay vợ, miệng mấp máy mấy lần mà không sao nói nên lời. Anh cảm thấy mình nhỏ nhoi quá, thấp hèn quá, so với tấm lòng đầy khoan dung, từ bi, độ lượng của vợ. Sống chung với nhau mười hai năm rồi, mà bây giờ anh mới thấy thương vợ thương con bằng hết cả trái tim của anh. Anh kéo chị Bông ngồi xuống kế anh, cầm tay chị anh nói nhiều lắm, bày tỏ tất cả những gì từ mấy ngày này đã dằn vật cả thân xác lẫn tinh thần của anh, nhưng chị Bông chỉ nghe được một câu chồng chị nói: “Anh không làm nghề đồ tể đó nữa đâu, lát đem hình cha vô chùa em cho anh đi theo với, cho anh lạy Phật, lạy thầy, để xin thầy chỉ cho anh biết từ bi thương người, thương vật như em và con.” Bé Ly trố mắt to bồ câu nhìn cha nó với hai hàng nước mắt sung sướng lăn dài trên má, thằng Long đến đỡ bố nó đứng dậy, nhoẻn miệng cười thật tươi với mẹ: “Thôi mình đi kẻo trễ giờ tụng kinh mẹ à.” |
Thăm Viếng Các Vị Cao Niên Tại Viện Dưỡng Lão The Village At RichardsonThăm bác Hoàng Cang và Trần Đình Thẩm: Đã từ lâu, Nhóm Phật Tử Đạo Tâm rất tha thiết muốn tổ chức những buổi viếng thăm, an ủi những bậc cao niên người Việt Nam do vì hoàn cảnh bệnh già yếu, hoặc sau khi bị tai biến mạch máu não, thân nhân không thể săn sóc đầy đủ được, hiện đang trú ngụ tại những Nhà Dưỡng Lão do người Mỹ điều hành. Một số lớn các cụ không biết tiếng Anh, hoặc có biết mà khả năng “nói, nghe” không còn nữa… Lần đầu tiên chúng ta thực hiện được buổi thăm viếng này. Với sự đề xướng của một số các bạn sau khi đọc một bài viết do Lê An gởi ra. Hai bác Minh Hòa là người thường xuyên đến thăm viếng huynh trưởng Nguyên Phương vì tình Lam thân thiết. Từ Hà, Tuệ Kiên thỉnh thoảng thăm viếng bác vì ân nghĩa của bác với Nhóm Phật Tử Đạo Tâm. Đối với bác Hoàng Cang, tình cảm mình cũng giống như với bác Mật Nghiêm và bác Minh Hòa, là hai vị cố vấn của Nhóm. Bác Hoàng Cang không chính thức nhận lời làm cố vấn, song Tuệ Kiên luôn kính trọng và coi bác như một vị Thầy. Là một hành giả của pháp môn Thiền tịnh song tu, Bác Hoàng Cang am tường Phật pháp, thông thạo Hán văn. Bác đã viết và dịch một số bài cho các Chương trình Tiếng Từ Bi. Chúng ta có thể học hỏi nơi Bác rất nhiều. Với sự phối hợp của bác Minh Hòa, ban giám đốc dành cho chúng ta một phòng khách ngoài Lobby rất rộng, nơi đây có cả một chiếc đàn Piano nữa. Dự định chương trình thăm viếng sẽ bắt đầu từ 2 giờ chiều, song vì số nhân viên trực Chủ nhật rất ít, nên mãi đến hơn 3 giờ mới khởi sự được. Và trong số 4 vị cao niên, chỉ có hai bác Trần Đình Thẩm 77 tuổi và bác Hoàng Cang 83 tuổi hiện diện. Mở đầu buổi sinh hoạt, Tuệ Kiên giới thiệu hai bác Trần Đình Thẩm và bác Hoàng Cang, bác gái Nguyên Lạc (khi xưa cũng là một huynh trưởng kỳ cựu)… và mục đích của chuyến thăm viếng. Bác Minh Hòa đã đại diện cho mọi người hiện diện ngỏ lời chào mừng, chúc tết hai bác. Đặc biệt bác Minh Hòa nói qua về tiểu sử bác Hoàng Cang như sau: - Huynh trưởng Nguyên Phương xuất thân từ đoàn sinh trong Ban đồng ấu Phật tử thuộc tỉnh hội Quảng Trị Việt Nam từ năm 1939. Tốt nghiệp Học Viện Quốc Gia Hành Chánh khóa I năm 1957, nguyên Phó Tỉnh trưởng Tuyên Đức (Đà Lạt). Huynh trưởng hoàng Cang đã sáng tác nhiều bài hát sinh hoạt cho Tổ chức GĐPT như: Dòng Anoma, Chim bốn phương, Mưa đông rơi, Xuất gia… vẫn còn được các đoàn viên tổ chức GĐPT Việt Nam xử dụng cho đến ngày nay Mọi người cùng đồng ca bài Chim bốn phương với phần phụ họa Piano của bé Uyển Nhi và đàn Guitar của Khánh Hải. Sau đó Túy Tâm điều khiển tất cả đồng ca bài Đón xuân. Tiếng ca vang lên trong niềm hòa ái giữa mọi người hiện diện. Nhóm Đạo Tâm đã đến khá đông: cô Tâm Ngọc, Tuệ Kiên và Từ Hà đến lúc 1:35 phút, sau đó là cô chú Huy, Quý rồi tới hai bác Bình, Hoàng Linh, Quốc Tú, Phan Trúc và người bạn đến từ Austin (Hùng), Khánh Hoàng, Khánh Hải (với cây đàn), Túy Tâm, Quốc Thông và bé Uyển Nhi, Thân Quán, Quốc, Thục Hiền và các cháu thiếu nhi lớp Việt ngữ Thiền viện Quang Chiếu, Nhuận Cư, Diễm Châu và bé Ái Vy, Lữ Nhớ (rất bận rộn mà cũng tới được), Parker… rất tiếc là một số thành viên đang đảm nhận công tác dạy Việt ngữ tại chùa Đạo Quang đã không đến được. Đại diện GĐPT Miền Tịnh Khiết có huynh trưởng Diệu Mỹ Phạm Trịnh Thị Nga, anh Nguyên Lưu Châu Mãi. Chúng tôi cũng ghi nhận sự hiện hữu của cô Hồ Đức Hoàng Minh từ Orange County sang thăm cậu mợ; và sau cùng là đạo hữu Trần Bá Lộc, cũng là cháu của huynh trưởng Hoàng Cang. Tuệ Kiên đại diện Nhóm Phật Tử Đạo Tâm chúc tết hai bác và đọc bài thơ viết riêng kính tặng huynh trưởng Hoàng Cang như sau:
Sau đó bác Thẩm cũng có đôi lời cảm tạ và chúc Tết tất cả mọi người hiện diện, đặc biệt bác nhắn lời kính thăm Sư Tịnh Đức, trụ trì chùa Đạo Quang. Sau đó, các cháu thiếu nhi hát bài “Cho Cha”, Túy Tâm cùng Khánh Hải song ca bài “Chợt”, một sáng tác mới nhất và rất ý nghĩa của Khánh Hải. Đến đây, bác Hoàng Cang, với giọng nói rất an lạc, ngỏ lời cám ơn toàn thể mọi người, nhất là bác nhắc rất nhiều đến những “ấn tượng” mà bác có được với Nhóm Phật Tử Đạo Tâm. Tới đây, theo lời đề nghị của bác Minh Hòa, Bác Hoàng Cang cùng mọi người đồng ca bài Dòng Anoma. Khánh Hoàng đọc tặng Bác bài thơ “Đêm cuối năm về thăm ba mẹ”. Trong khi mọi người chia sẻ những múi cam, nước, những chiếc bánh do bác Bình gái làm; táo, xôi của cô Từ Hà, thì chương trình văn nghệ “bỏ túi” tiếp tục với Túy Tâm đơn ca bản “Đêm qua sân trước một cành mai”, sáng tác của Khánh Hoàng. Sau khi đại diện tất cả nói lời tạm biệt, anh Châu Mãi hát bài “Làng tôi”, sau cùng, tất cả cùng hát bài “Dây thân ái” để chia tay. Được biết ngoài một bình hoa do chị Tâm Phùng tặng cho mỗi vị, trong gói quà tặng đều gồm có: một chiếc Radio nghe đài Việt Nam của bác Minh Hòa Sau khi từ giã, hai phần quà kia đã được bác Bình cùng một số các bạn Đạo Tâm đến thăm các phòng của hai vị cao niên Hồ Long (Phòng 1108) và bác Lê văn Lộc (Phòng 2303, chung phòng với bác Thẩm), Bác Hoàng Cang đang ở phòng 1406. Trong những ngày sắp tới, các bạn ở gần, vẫn có thể thỉnh thoảng ghé thăm các bác… Viếng thăm Bác Đức Long: Từ giã thân hữu xong, chúng tôi lái xe thẳng đến tư gia hai thành viên Hải Châu và Khánh Hùng để viếng thăm bác Lê Đức Long, là thân phụ của cô Hải Châu, đang nằm dưỡng bệnh tại nhà. Theo cô Hải Châu, Bác cũng bị mệt mấy ngày, đến hôm nay thì Bác đã qua khỏi sự nguy hiểm… Chúng tôi cũng chỉ còn biết chia sẻ nỗi lo lắng của gia đình, cũng như nắm tay Bác và khuyên Bác cứ niệm Phật để cầu chư Phật gia hộ. Tại đây, chúng tôi gặp được chị Chơn Hằng Tâm là chị của cô Hải Châu từ Houston lên thăm Cha và chị Chơn Hằng Minh là chị họ, cùng thành viên Huy Hiển, tức cháu gọi Bác Đức Long bằng Ông nội. Chúng tôi nhân dịp này gởi tặng các chị Bản Tin và một số CD của Nhóm phát hành. Hai chị và Huy Hiển đã gởi tịnh tài yểm trợ Nhóm và cúng dường Thầy Linh Quang bị tai nạn xe hơi, đang chữa chạy tại Thái Lan… Chiều về đến nhà, thì Thục Hiền đang cùng các cháu thiếu nhi đang đọc bài cho Trang Thiếu Nhi. Chúng tôi vội vào Paltalk để nghe Sư Minh Diệu giảng đề tài: “Làm sao chuyển hóa sợ hãi”… Xin cám ơn tất cả các bạn đã cùng chúng tôi tổ chức buổi thăm viếng, để chúng ta có dịp ôn lại bài học vô thường, tập nhìn lại mình để thấy chúng ta còn sức khoẻ và trí tuệ, lại có duyên lành biết chánh pháp, để cảm nhận rằng mình thật có nhiều phước báu. Xin cám ơn đời đã cho tôi có thêm được một ngày hạnh phúc và đầy ý nghĩa… Tuệ Kiên
|
Khóa Tu Học Phật Pháp Mỹ Châu Kỳ I
|
|||||
|
Camp Young Judea là một khu đất rất đẹp, rộng rãi và tiện nghi. Không khí trong lành và mát lạnh. Trại có sân tennis, cầu tuột, hồ bơi và rất nhiều khu trò chơi water sport nhưng tiếc quá vì là mùa đông lạnh lẽo nên không ai dám xuống nước. Thật ra cũng còn một lý do nữa là chương trình học rất liên tục và những bài giảng của quý Thầy quá hay cho nên mọi người đều vào hội trường ngồi nghe mà không màng đến những môn chơi này. Tôi không đến trại kịp để dự lễ khai mạc nhưng vẫn tham dự được gần hết các lớp học. Trong khu trại, hội trường và phòng ăn kế bên là hai nơi luôn luôn có nhiều người tề tựu từ sáng đến tối, có lẽ vì học và ăn là hai chuyện quan trọng nhất. Hội trường được trưng bày trang nghiêm với tượng Phật và hương hoa. Hai câu đối Duy Tuệ Thị Nghiệp và Pháp Luân Thường Chuyển đặt hai bên bàn thờ Phật. Một người ngu dốt Hán văn như tôi thì mù tịt về ý nghĩa của hai câu đối này nhưng may quá gặp thầy Trí Siêu liền nhờ thầy giải thích cho nghe. Có bạn nào dốt như tôi không? Vậy thì nhớ xem lời giải đáp ở phần phụ chú cuối bài nhe. Theo chương trình của khóa tu học thì 5 giờ 45 sáng là thức chúng. Về chuyện này phải kể đến công của Khải , một thanh niên năng nổ ở Houston mà tôi đã có dịp được biết, qua chuyến đi hành hương Ấn Độ vào tháng 11 năm 2006. Khải giữ nhiệm vụ đánh kẻng thức chúng. Tiếng kẻng thật to làm thức dậy mọi người và cũng thật kiên trì làm cho những người nào đang còn do dự tiếp tục nằm “nướng qua và nướng lại” trên giường sẽ không chịu nổi và phải ngồi dậy đi lên lớp học cho rồi. Sau này nhờ một em trong nhóm thiếu niên bật mí tôi mới biết là Khải mang ear plugs khi đi làm việc này. Thảo nào Khải có thể “tra tấn” mọi người một cách dai dẳng như vậy. Thanks Khải, nhờ em mà mọi người “sốt sắng” lên lớp học đầy đủ. Thật ra không phải ai cũng ham ngủ như tôi! Khi tôi lên hội trường lúc 6 giờ 15 sáng đã thấy có rất nhiều người rồi . Một số người đang tụng kinh trước bàn thờ Phật hay ngồi im lặng thiền định nhưng nhóm đông đảo nhất là tụ lại ở phòng ăn, đang uống cà phê, hoặc uống trà và đang trò chuyện. Đúng 6 giờ 30 là quý Thầy đến. Sau khi xướng danh hiệu Phật là đến phần ngồi thiền trong vòng 15 đến 20 phút và tiếp đó là tụng công phu khuya. Tiếng chuông, tiếng mõ, tiếng tụng kinh sang sảng của quý Thầy và toàn thể Phật tử vang vang. Còn phần tôi thì gọi là ngồi thưởng thức vì không thuộc kinh và ngay cả cầm sách dò theo đọc cũng không kịp! Tiếp theo là đến giờ ăn sáng. Nhà bếp của khu trại phụ trách nấu ăn mỗi ngày ba buổi cho toàn thể học viên. Đồ ăn chay nấu theo kiểu Mỹ theo ý tôi thì rất ngon. Lúc đầu nhiều bác lớn tuổi sợ rằng quý Thầy ăn không được nhưng rồi xem ra quý Thầy ăn cũng ngon miệng lắm. Bài giảng pháp đầu tiên tôi được tham dự là bài giảng của thầy Thông Triết, thầy là đệ tử của Hòa thượng Thanh Từ và đến từ chùa Chánh Pháp ở Oklahoma. Thầy dạy về thiền, bao gồm cả lý thuyết và thực hành. Trong khóa học có nhiều người tu theo Tịnh độ và cũng có nhiều người tu theo Thiền cho nên thầy nhắc nhở: giáo lý Phật chỉ có một vị là giải thoát nhưng có nhiều phương pháp tu. Các phương pháp tu đều lấy tâm làm cội nguồn. Các pháp tu không có hay và dở, chỉ có hợp căn cơ là vi diệu. Trong phần lý thuyết, cả lớp học thích thú theo dõi các câu chuyện về thiền. Cố gắng suy nghĩ để hiểu những lời đối đáp trong các câu chuyện này, vì nó rất thâm sâu và huyền bí. Đôi khi chỉ nói một chữ, hay đưa cây gậy lên ,hoặc đá bể cái tô mà ý tưởng cao sâu không lường, chỉ những bậc trí huệ chứng ngộ mới nhận ra. Tôi thì chỉ ngồi đợi nghe lời giải thích mới nhận ra được và thấy... ồ hay quá! Trong phần thực hành thầy chỉ dẫn rất kỹ lưỡng. Từ cách để chân mặt lên trên hoặc chân trái lên trên có ý nghĩa như thế nào, đến cách để tay, cách giữ lưng cho thẳng và hơi thở… Thầy cho thực hành ngồi thiền và đi vòng vòng sửa tư thế cho từng người. Đến 11giờ30 là giờ ăn trưa. Buổi trưa có quý thầy dùng cơm chung nên mọi người giữ im lặng hay chỉ dám nói chuyện nho nhỏ. Mỗi người, kể cả quý thầy, đứng vào hàng tự lấy thức ăn và vào bàn ngồi ăn chung. Tôi cố gắng thay đổi chỗ ngồi mỗi lần ăn để có dịp quen biết thêm những người bạn mới. Một kỷ niệm khó quên là buổi trưa đầu tiên khi nhà bếp cố gắng nấu cơm kiểu Á đông. Chúng tôi đang ngồi học thì đầu bếp chính chạy vào giảng đường cầu cứu với vài chị ngồi gần cửa, thì ra họ không quen nấu cơm nên bỏ nhiều gạo quá và nồi cơm không đủ nước trở nên sống nhưng lại cháy khét! Các cô phải xuống bếp giúp nhà bếp xớt gạo ra những nồi nhỏ hơn và đổ thêm nước vào để nấu cho chín. Trưa hôm đó cả nhóm được ăn một món cơm “trung đạo” vì nó nằm khoảng giữa cơm và cháo. Sau lần này cả nhóm đồng ý là nên để nhà bếp nấu đồ ăn chay theo kiểu Mỹ là sở trường của họ. Chúng tôi sung sướng hơn khi được ăn lasagna chay, potato soupe, veggie soupe, spagetties, salad, french fries, garlic bread... Sau giờ ăn trưa là giờ chấp tác. Mọi người được tự do cho đến 2 giờ chiều mới phải trở lại hội trường học tiếp. Nhân dịp có chút giờ rảnh này tôi đi tản bộ vòng hết cả khu trại để vừa tập thể dục, vừa hít thở không khí trong lành và cũng để chụp vài tấm hình lưu niệm. Buổi chiều chúng tôi vào học với thầy Chúc Thiện . Thầy đến từ Liên Hoa đạo tràng ở San Antonio và bài giảng của thầy là về Giáo dục Phật giáo. Thầy dùng ngũ phẩm cúng dường trên bàn thờ Phật để giải thích về ý nghĩa của các nghi thức cúng và đồng thời cũng từ đó nói thêm về giáo lý của đạo Phật. Bài học rất lý thú đối với tôi vì nhờ đó tôi biết được những món đồ mình đặt lên bàn thờ Phật có ý nghĩa gì. Thí dụ như hương nhang là hương giới, hương định, hương huệ, hương giải thoát. Hoa là nhân địa, tâm địa. Quả là đẹp và quả tuơi còn tượng trưng cho kết quả viên mãn. Nước là sự trong sạch tinh khiết và đèn là trí huệ và huệ đây là do tu tập từ định qua tuệ. Sau đó thầy còn dạy thêm cho biết về ý nghĩa của màu áo lam là biểu tượng của sự hòa hợp. Thầy dạy cách lạy cho đúng và đẹp, cách ngồi sao cho nghiêm trang, tề chỉnh; cách nam nữ đứng trong chùa. Thầy cũng trả lời rất tường tận các câu hỏi của học viên về nghi thức trong chùa. Cám ơn thầy Chúc Thiện về bài giảng nghi thức vì sau gìờ học với thầy đạo tràng trở nên tề chỉnh hơn rất nhiều. Sau giờ giải lao 15 phút, cả lớp tề tựu lại để nghe Hòa thượng Chơn Điền, đến từ Houston, giảng về
Bát Nhã Ba La Mật Đa. Bài này Hòa thượng giảng chánh văn từ lời kinh nhưng không phải ngồi giảng buồn chán mà hòa thượng đặt ra những câu hỏi dẫn dắt theo bài học và cho học viên trả lời, rồi từ đó Hòa thượng giảng thêm. Tôi thì phải kiếm góc kẹt mà ngồi để Hòa thượng không nhìn thấy, Hòa thượng mà kêu trúng tôi thì chỉ có đứng chào cờ hay cười trừ. Thật ra cũng không nguy hiểm quá đâu các bạn. Hòa thượng cũng nhắc tuồng hoặc chuyển đổi câu hỏi giúp cho các bạn có thể trả lời. Các bác lớn tuổi rất thích lớp của Hòa thượng . Họ cười vui, gật gù thông hiểu. Tranh nhau trả lời và trả lời trúng nữa chứ. Rất hoan hô trình độ và tinh thần của các bác. Sau khi ăn tối xong đến 7giờ 30 thì toàn thể học viên trở lại trong hội trường để tham dự giờ giải đáp thắc mắc. Đây là thời gian tôi thích nhất. Tất cả quý thầy sẵn sàng giải đáp những câu hỏi của học viên. Ban tổ chức đã thông báo từ sáng là ai có câu hỏi thì viết vào giấy đưa lên. Các câu hỏi thường đa dạng và bạn luôn luôn không ngờ trước được là câu hỏi sẽ nhằm vào phần nào trong Phật pháp bao la. Lúc này quý thầy cũng như đang tham gia vào một cuộc thi vấn đáp. Khi câu hỏi được đọc ra tôi cũng suy nghĩ để xem mình có biết về vấn đề này không và đồng thời nhìn lên quý thầy chờ câu trả lời. Phản ứng trên nét mặt quý thầy thật khác nhau. Có thầy mỉm cười như đã tìm được câu trả lời, có thầy còn đang suy tư và cũng có thầy nhanh nhẹn đưa ngay microphone cho thầy kế bên. Chúng ta được lợi lạc rất nhiều khi nghe các buổi trả lời Phật pháp này vì đây là sự tập trung trí tuệ của nhiều thầy. Các câu hỏi đều được giải đáp rất thỏa đáng. Có một câu hỏi về hạnh phúc một mình và thầy Trí Siêu hứa sẽ trả lời vào sáng hôm sau trong buổi giảng pháp của thầy. Các bạn có biết làm sao có được hạnh phúc một mình không? Tôi sẽ không ghi lại câu trả lời của thầy Trí Siêu ra đâu! Các bạn phải đi tham dự các khóa tu học để nghe câu trả lời. Sau giờ giải đáp thắc mắc là kinh hành tụng kinh. Cả thầy và trò chân bước đều đặn miệng niệm Nam Mô A Di Đà Phật trong vòng 30 phút rất trang nghiêm. Đến 10giờ 30 tối là giờ chỉ tịnh. Mọi người chia tay đi về khu nhà của mình để tắm rửa và nghỉ ngơi. Trong nhà tôi ở, mọi người vừa chuẩn bị đi ngủ vừa trò chuyện , chia xẻ kinh nghiệm về học tập và đời sống cho đến nửa đêm. Đây là chương trình sinh hoạt của một ngày trong khóa tu học. Chúng ta học hỏi được rất nhiều từ thầy, từ bạn và từ cả thiên nhiên chung quanh.
Sang ngày kế tiếp, sau giờ thiền, tụng công phu khuya và ăn sáng, mọi người trở lại trong hội trường để nghe thầy Trí Siêu giảng pháp về đề tài Phật giáo và Gia đình Xã hội. Tôi cũng đã có nghe vài CD của thầy như Duy Ma Cật, Ý Tình Thân, ... nhưng đây là lần đầu tiên được nghe và thấy chính thầy giảng. Thầy Trí Siêu nhìn bên ngoài rất gầy gò và xanh xao nhưng có lẽ “nghiệp” của thầy là giảng pháp vì khi thầy cầm micro phone lên và bắt đầu giảng thì thầy như thay đổi hẳn, tự tin, sinh động và đầy nhiệt huyết. Thầy giảng rất mạch lạc, khúc chiết và rõ ràng. Bài giảng về Đạo Phật và Gia đình Xã hội của thầy dựa trên Ngũ thừa của Phật giáo là Nhân thừa, Thanh văn thừa, Thiên thừa, Duyên thừa và Bồ tát thừa. Về quan hệ của con người với xã hội thì thầy dùng kinh Thiện Sinh để giảng, nói về Phật giáo có sáu phương: Đông là cha mẹ, Nam là thầy tổ, Tây là vợ chồng, Bắc là họ hàng bạn bè, Dưới là tôi tớ, và Trên là tu sĩ Bà la môn. Thầy cũng giảng giải về bốn điều tạo hạnh phúc cho đời sống hiện nay và bốn đức hạnh để có hạnh phúc cho đời sau. Chúng con xin cám ơn thầy và sẽ cố gắng làm theo những điều thầy chỉ dạy. Hy vọng 3 năm sau gặp lại thầy chúng con sẽ có đôi chút tiến bộ. Buổi chiều mọi người trở lại hội trường để nghe bài giảng của Hòa thượng Chơn Điền với đề tài Nguyên nhân cấu tạo con người. Hòa thượng giảng về tinh cha, huyết mẹ và nghiệp lực là những điều kiện tạo ra con người chúng ta. Hòa thượng cũng giảng giải thêm về tâm bất tịnh và tính vô thường của mọi sự và mọi vật. Cùng trong buổi chiều tiếp theo là thầy Thông Triết nói về Thiền và Ứng dụng trong đời sống. Thầy nói trong cuộc sống của chúng ta có những sự việc có sẵn mà không thể thay đổi được, đó là tánh già nằm trong tuổi trẻ, tánh bịh nằm trong sức khỏe và tánh chết nằm trong cuộc sống. Thầy cũng kể nhiều câu chuyện thiền rất lý thú của Lục tổ Huệ Năng. Còn về ứng dụng thì thiền giúp phục hồi trí nhớ và thế kiết già của thiền là dưỡng sinh. Vào buổi tối, lớp học vui nhộn và sinh động hẳn lên trong giờ của thầy Nguyên Kim, thầy từ Seattle đến. Thầy chủ trương học phải vui và tiến hóa . Để thay đổi không khí nên thay vì ngồi nghe giảng pháp thì thầy dạy hát. Những bài hát ngắn với lời nhạc là những lời nhắn nhủ dạy bảo rất dễ đi vào tâm chúng ta. Như là: Bao nhiêu lầm lỗi cũng do tâm. Hay là: Đây là Tịnh độ. Thầy chia lớp ra làm ba nhóm và có những cuộc thi hát đua giữa các nhóm. Tôi là Đạo Tâm member thì cũng biết hát chút đỉnh nhưng mà thi hát thì phải nhờ vào hên mới thắng được thôi. Các bạn trong lớp hát hay lắm lắm. Chị “ca sĩ” của Houston, rồi sư cô, rồi thầy Nguyên Hiền và nhiều người nữa tham gia thi hát, tôi không nhờ hên thì làm sao”giựt” được giải thưởng là xâu chuỗi hạt đang đeo trên tay của thầy Hạnh Nguyện. Hay không bằng hên mà.
Sau giờ giảng của thầy Nguyên Kim là giờ kinh hành. Rút kinh nghiệm của ngày hôm trước là khi đi kinh hành theo hàng một thì cả lớp thành một đoàn quá dài nên hôm nay các thầy đề nghị Phật tử đi thành hàng đôi. Hai người sóng vai đồng bước nhịp nhàng theo tiếng mõ, tiếng khánh và tiếng niệm Phật. Đến 10giờ30 tối là chỉ tịnh. Hôm nay nơi căn nhà tôi ở mọi người đã quen nhau nhiều hơn nên câu chuyện trao đổi lại càng thân mật và rôm rả hơn. Cuối cùng phải nhắc nhở nhau đừng nói chuyện nữa, phải đi ngủ để lấy sức cho ngày mai học tiếp. Buổi giảng pháp trong ngày 30 tháng 12 được bắt đầu bằng bài giảng của thầy Thông Lý. Thầy đến từ chùa Việt Nam ở California. Thầy giảng về nhân quả. Nghe những lời giảng của thầy mới hiểu nhân quả thật sự phức tạp vô cùng. Vì cái nhìn của chúng ta về nhân quả quá đơn giản nên chúng ta thường buồn phiền và thắc mắc. Tại sao người này làm điều ác nhiều như thế mà vẫn được sống sung sướng hoài hoài? Còn như chúng ta đây ăn ở hiền lành quá mức mà tại sao lại gặp toàn sao quả tạ chiếu tới? Thật ra không phải lúc nào nhân quả cũng là tức thời mà nhân quả có rất nhiều dạng. Hiện báo cũng là đòi hỏi một khoảng thời gian mới thấy quả. Sanh báo thì đến kiếp sau mới thấy quả và hậu báo là nhân quả từ nhiều kiếp rồi. Thầy cũng nói thêm một số thí dụ cụ thể như là nếu đời này làm quan thì đời trước đã từng đem vàng làm tượng Phật, hay nếu đời này mà có áo gấm mặc thì đã từng cúng dường y cho tăng, ni, sư. Nhưng coi chừng nhe các bạn nếu đời này hay chọc phá người thì đời sau có thể làm khỉ vượn đó! Khẹt… khẹt… khẹt . Kết luận dạy dỗ của thầy là sống phải có trách nhiệm, phải lấy hạnh phúc của người khác làm hạnh phúc của mình. Ui choa ơi! điều này hình như khó quá đây! Nhưng mà nếu sống được với tâm như vậy thì có lẽ không còn gặp sao quả tạ nữa đâu. Buổi chiều trong ngày là buổi giảng thứ ba của Hòa thượng Chơn Điền. Ban tổ chức thiệt là “vị” Hòa thượng quá! Quý thầy khác theo chương trình thì chỉ được có một hoặc nhiều lắm là hai buổi giảng mà thôi. Nói lén chút xíu nhe, có lẽ vì ban tổ chức thấy Hoà thượng là senior citizen rồi nên cho giảng nhiều một chút, còn quý thầy “chẻ” thì còn nhiều thời gian hơn? Nhưng các bạn ơi! Gừng già gừng càng cay. Lần này Hòa thượng dạy toán , toàn là numbers không thôi nhưng mà rất hấp dẫn. Khởi đầu với số nhỏ nhất là chuỗi hột 18, có ai biết tại sao có con số này không? Rồi đến chuỗi hột 108, làm sao ra con số này dzậy? Và rồi 84000 phiền não, làm sao chúng ta “được” nhiều phiền não như vậy? Lý thú chưa? Các con số nhỏ thì có lẽ các bạn đã biết rồi cho nên tôi chỉ cần bí mật .. à không bật mí sơ sơ về con số lớn nhất thôi. Chúng ta có 5 (căn) x 5 (trần) = 25 Các bạn thấy trần lao phiền não nhiều ghê chưa! Nhưng các bạn đừng có lo, Hòa thượng có hướng dẫn chúng ta trong vấn đề quan trọng kế tiếp là: làm sao để ra khỏi 84000 phiền não này? Các bạn hãy suy nghĩ đi. Câu giải đáp thì tôi giữ bí mật, nhất định không bật mí ra đâu. Các bạn có thể đi hỏi những người bạn khác đã từng tham dự khóa tu, mà không bị ngủ gục, thì họ cũng biết đấy. Còn phần tôi thì hình như là ngủ gục ngay đúng vào đoạn này hay sao nên.. quên dzồi!ha ha..ha. Trong khóa tu học thì học tập là việc chánh nhưng ngoài ra ban tổ chức còn có những sinh hoạt thể thao và thể dục nữa. Mỗi ngày đều có giờ thầy Chúc Thiện dạy thể dục. Thầy dạy cách đánh vào các huyệt đạo trong thân để làm lưu thông khí và giúp trị bịnh. Có các buổi thi đấu tennis của các em thiếu niên. Nhưng mà sôi nổi nhất là cuộc thi đấu bóng bàn. Các thầy lại có nhiều ưu thế hơn trong bộ môn bóng bàn này vì có nhiều thời gian tập dợt hơn Phật tử! Chỉ cần có một thầy đứng lớp giảng thì tất cả học viên đều phải vào hội trường để nghe nhưng còn lại các thầy khác thì họ rảnh để dợt ping pong! Ban tổ chức và quý thầy còn có tổ chức lễ Quy y Tam bảo và lễ Truyền thọ Bồ tát giới rất trang nghiêm. Tôi cảm động quá mức khi nhìn thấy những người bạn, những người em mà mình quen biết hàng ngày đã tìm thấy và đã chọn được cho bản thân con đường sống đúng nghĩa vị tha.
Chủ nhật 31 tháng 12 là ngày giảng pháp cuối cùng của quý thầy. Chương trình thật lý thú. Có my favorite là vấn đáp Phật pháp, có bài giảng của thầy Hạnh Nguyện, tối đến có thi văn nghệ và còn có cả đốt pháo bông vào giao thừa nữa…Tôi rất là muốn tham dự tất cả các phần này nhưng mà… tôi phải trở lại Dallas để đi làm. Các bạn có mừng không? Vì bài viết dài dòng của tôi sắp chấm dứt! Lúc đầu tôi cũng không có ý định viết bài về khóa tu học này vì đưa ra một bài viết mà không có đầu cũng không có đuôi thì có lẽ không ai đoán được nó là cái gì? Nhưng cứ đọc email của anh Tuệ Kiên nhắc viết bài cho web Đạo Tâm hoài nên đành “diết” thử chút đỉnh lấy thảo. Để lòng phấn chấn hơn trong buổi sáng lái xe về lại Dallas, tôi đã tự an ủi và nói với chính mình rằng: Vấn đáp Phật pháp thì tôi đã có duyên nghe được một lần rồi, do đó không nên “tham” quá và như vậy có mất một buổi nghe thì cũng không sao! Còn về thầy Hạnh Nguyện thì tôi đã “bị”, không phải đã “được”, nghe thầy giảng suốt 2 tuần đi hành hương ở Ấn Độ. Thầy là người hướng dẫn chánh của xe bus số 3 là xe bus tôi đi. Do đó dù chúng tôi thích hay dù không thích thì thầy cũng ở ngay trong xe hoài, nhưng mà thật ra thì chúng tôi rất thích. Chúng tôi may mắn và được lợi lạc hơn các xe bus khác là được nghe pháp của thầy rất nhiều . Thầy luôn luôn giảng với lòng thương, với tâm từ bi và sự chân thành. Bây giờ nếu tôi bị mất một buổi giảng của thầy trong ngày cuối có lẽ cũng không sao! Về văn nghệ thì Đạo Tâm cũng có văn nghệ hoài hoài đó mà! Còn pháo bông thì tôi cũng được xem mỗi năm hoài vào lễ July 4th. Đây gọi là tự an ủi cho số phận buồn thảm của mình thôi đấy! Trong phần kết thúc của bài tôi xin gởi lời (còn vốn thì giữ lại.. just kidding) cám ơn đến ban tổ chức đã bỏ nhiều công sức, thời gian tổ chức khóa tu học đem lại rất nhiều lợi lạc cho Phật tử. Thanks. Hẹn gặp lại trong khóa tu học kỳ II tại California. Hy vọng ban tổ chức, mà phần lớn là Dallas citizen, nếu có dịp đọc qua bài này không “get mad” với tôi và không cho tham gia khóa tu học kỳ II. Tuong Pho Chú thích: |
|
|
Trích từ “Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả Kinh”- Đại Chính tân tu Đại Tạng kinh Tỳ Kheo Thích Đức Trí dịch từ Hán Ngữ sang Việt Ngữ
Kinh “Quá Khứ Hiện Tại Nhân Quả” có chép rằng: Sau khi đức Phổ Quang Như Lai thành Phật, có một vị tiên nhơn tên là Thiện Huệ, một hôm bỗng nhiên nằm mộng có năm điều kỳ lạ: 1- Thấy thân mình nằm trên biển lớn; 2- Thấy gối đầu ở núi Tu Di; 3- Thấy tất cả chúng sinh đều nhập vào thân mình; 4- Thấy tay mình nâng mặt trời lên; 5- Thấy tay mình nâng mặt trăng lên. Thiện Huệ tiên nhơn tỉnh mộng và rất là kinh ngạc, trong lòng nghĩ thầm rằng: “Hôm nay mộng thấy điềm này, không phải là chuyện nhỏ, nhất định xuất hiện việc lớn kỳ diệu ở trong đời mà tự mình không rõ biết. Ai có thể giải thích được điềm lành này, hay ta nên vào thành hỏi các bậc hiền trí khác.” Thiện Huệ sau khi nghĩ vậy liền khoác lộc y, cầm tịnh bình và chống tích trượng, mang ô đi vào thành. Khi ngài đi ngang qua chỗ ở của Lục Sư Ngoại Đạo, có 500 vị đang tu học ở đó. Thiện Huệ nghĩ rằng: “Hôm nay ta nên đem điềm mộng đến thử hỏi các vị này, đồng thời xem phương pháp tu học của họ thế nào, cùng đàm luận đạo lý để phá đi quan điểm tà kiến của họ.” Thiện Huệ đã luận tranh cùng họ, Lục Sư Ngoại Đạo bị khuất phục, không ai thắng qua Thiện Huệ, và họ muốn bái kiến Thiện Huệ làm sư phụ. Để tỏ lòng thành kính, mỗi vị phát tâm hoan hỷ cúng dường Thiện Huệ một đồng tiền vàng, tổng cộng cả thảy gồm năm trăm đồng. Năm trăm tu sĩ ngoại đạo này thấy tướng mạo trang nghiêm của Thiện Huệ, luận bàn đạo lý rõ ràng và nói rằng: “Chúng tôi tuy không giải rõ được điềm mộng của Ngài, nhưng biết rằng hiện nay có đức Phổ Quang Như Lai xuất thế, Ngài nhất định giải rõ được giấc mộng của ông.” Thiện Huệ sau khi nghe xong điều này, lòng dạ vô cùng vui mừng, vội vàng cáo từ thầy trò các thầy ngoại đạo, rồi mang theo 500 đồng tiền vàng được cúng dường đi đến vương thành. Khi gần đến vương thành, thấy dân chúng đang dọn dẹp đường phố, rải nước hương hoa trên đường, khắp nơi đều treo bảo cái tràng phan một cách trang nghiêm. Thiện Huệ thấy lạ hỏi mọi người rằng: “Mọi người trang hoàng long trọng như vậy là có sự việc gì vậy?” Nhân dân trong thành đáp rằng: “Có đức Phật xuất hiện ở thế gian, hiệu là Phổ Quang Như Lai. Hôm nay đức vua Đăng Chiếu cung thỉnh Phật vào thành thuyết pháp, cho nên nhân dân trong thành đều cùng dọn dẹp đường xá, trang nghiêm phố phường.” Thiện Huệ tiên nhơn hỏi một người đi đường: “Ông biết nơi nào có bán hoa quý không?” Người ấy nói rằng: “ Hôm nay vua Đăng Chiếu ra lệnh nhân dân trong thành không được bán hoa, đem tất cả hoa quý và đẹp đến vương thành để cúng Phật”. Nghe xong Thiện Huệ thất vọng, biết tìm hoa quý đâu để cúng Phật, bỗng nhiên thấy một cô cung nữ đi ngang qua đường, tay cầm bảy đóa hoa tươi, cô này biết lệnh của vua nên đem hoa của mình đi vào vương thành, và dấu hoa ở trong bình để không ai thấy mà đòi mua. Do lòng thành kính cúng Phật của Thiện Huệ, hoa ở trong bình cô gái tự nhiên xuất hiện ra ngoài. Thiện Huệ vội vàng đi theo cô và nói rằng: “Này cô, xin đợi một chút, hoa của cô đang cầm có bán hay không?” Cô cung nữ nghe lời Thiện Huệ hỏi mua hoa, lòng dạ phập phồng kinh ngạc, tự hỏi rằng: “Ta đã dấu hoa trong bình rất kính đáo, tại sao người này thấy được mà hỏi mua.” Cô cung nữ vội ngó xuống bình hoa thấy hoa trong bình xuất hiện ra ngoài, cảm thấy kỳ lạ, liền hỏi Thiện Huệ rằng: “Này ông, bảy cành hoa sen này đưa đến vương cung để cúng dường đức Phật, nên hoa này không được bán, xin ông đừng nghĩ chuyện mua”. Thiện Huệ tiên nhơn khẩn cầu cung nữ: “Tôi dùng 500 đồng tiền vàng mua 5 cành hoa sen.” Nghe xong cung nữ lấy làm lạ và nghi hoặc, tại sao mấy cành hoa này chẳng đáng giá bao nhiêu mà người này dùng 500 đồng tiền vàng để mua 5 cành hoa. Cung nữ hỏi Thiện Huệ rằng: “Thưa ông, ông bỏ tiền ra nhiều muốn mua 5 cành hoa này là có ý nghĩa gì?” Thiện Huệ đáp rằng: “Nghe nói đức Phổ Quang Như Lai xuất hiện ở đời, hôm nay vua Đăng Chiếu thỉnh Phật vào thành thuyết pháp, cho nên tôi cần mua hoa quý để cúng dường Phật. Cô nên biết rằng, Phật đà xuất thế khó mà được gặp.” Cung nữ nghe xong, liền hỏi rằng: “Ngài mua hoa cúng dường Phật để mong ước được điều gì?” Thiện Huệ nói rằng: “Muốn đạt được nhất thiết chủng trí, cứu độ vô lượng chúng sanh khổ nạn.” Cung nữ biết rõ ý niệm của Thiện Huệ và trong lòng thầm nghĩ: Vị nam tử này tướng mạo trang nghiêm, khoác tấm lộc y che trên thân thể khỏe mạnh và đoan chánh, lại có lòng thành kính với Phật, không tiếc tiền bạc, đây là hạng người tốt khó gặp, liền nói với Thiện Huệ rằng: “Tôi đem hương hoa này để hiến cúng, nguyện kiếp sau được làm vợ ông.” Thiện Huệ vội nói rằng: “Tôi nay xuất gia tu học, cầu đạo vô vi, không thể kết duyên sanh tử.” Cung nữ đáp rằng: “Nếu ông không chấp nhận ý nguyện của tôi thì không thể mua được hoa này.” Thiện Huệ tiên nhơn đành nói rằng: “Nếu cô quyết định bán hoa, thì tôi chấp nhận ý cô, nhưng đừng có hối hận vì tôi rất thích bố thí, không được làm nghịch ý của tôi. Giả sử có người đến xin đầu óc tủy não, mắt mũi xương tủy, cho đến vợ con, tôi đều bố thí cho người đó. Lúc đó cô không được ngăn cản, phá hại thiện tâm bố thí của tôi.” Cung nữ nói với Thiện Huệ rằng: “Như vậy cũng được, thật là quá tốt, tôi đợi ông kiếp sau nhé. Kiếp này tôi phận nữ yếu hèn không thể đứng trước chúng đông được, tôi bán 5 cành hoa cho ông, còn 2 cành này nhờ ông cúng Phật giúp tôi. Nguyện đời đời kiếp kiếp không mất tâm nguyện này, đôi ta gặp nhau xấu đẹp không rời xa nhau, nhớ mãi trong lòng, cầu Phật chứng giám”. Cung nữ đời sau là vợ của thái tử Tất Đạt Đa- bậc xuất gia thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni. Vua Đăng Chiếu cùng vương tử, văn võ đại thần, vương cung quyến thuộc, các thầy Bà La Môn cầm các loại hoa quý và dùng các món khác cúng dường, cùng xuất thành cung nghinh đức Phổ Quang Như Lai, nhân dân trong thành tháp tùng cùng đi theo. Lúc bấy giờ, 500 đệ tử ngoại đạo mà Thiện Huệ đã thâu nhận từ trước đều có ý nghĩ rằng: “Hôm nay đức vua cùng nhân dân đến đức Phổ Quang Như Lai cúng dường, Thiện Huệ đại sư nhất định đi, chúng ta cũng nên đến đó cúng dường và lễ kính đức Phổ Quang Như Lai.” Năm trăm tu sĩ ngoại đạo này cùng đi đến chỗ của đức Phổ Quang Như Lai, đi giữa đường gặp Thiện Huệ tiên nhơn, thầy trò vui mừng khôn xiết, cùng nhau đi đến đức Phổ Quang Như Lai. Đương lúc họ đến nơi, thấy vua Đăng Chiếu cùng các quan văn võ đại thần, vương cung quyến thuộc đến trước đức Phổ Quang Như Lai. Vua Đăng Chiếu, người đầu tiên tán hoa cúng Phật và lễ bái, theo sau là văn võ đại thần và vương cung quyến thuộc. Toàn bộ các hoa quý họ tán lên đều rơi xuống mặt đất. Thiện Huệ tiên nhơn cùng 500 đệ tử đợi quốc vương, đại thần, vương cung quyến thuộc tán hoa cúng Phật xong, cùng đến trước Phật nhìn thấy vẻ từ bi của Phật cứu độ chúng sinh khổ não, thành tựu đầy đủ oai đức, liền tung năm cánh hoa sen lên cúng dường. Mọi người đều ngạc nhiên rằng, năm cành hoa này trụ giữa không trung và kết thành năm đài sen. Sau đó Thiện Huệ lại cầm hai cành hoa của cung nữ gởi cúng Phật tung lên không trung, hai cành hoa này phân thành hai bên trước đức Phổ Quang Như Lai. Quốc vương đại thần cùng vương cung quyến thuộc và cùng toàn dân nhìn thấy thập phần kinh ngạc cảnh tượng từ trước đến nay chưa từng có. Lúc bấy giờ, đức Phổ Quang Như Lai do thông đạt trí tuệ tự tại, đối với Thiện Huệ tiên nhơn thọ ký rằng: “Lành thay, lành thay, thiện nam tử, ông lấy hạnh lành này qua vô số kiếp về sau sẽ thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni, là bậc thầy dạy tôn quý của trời người.” Đức Phổ Quang Như Lai thọ ký cho Thiện Huệ xong, nhìn thấy Thiện Huệ đầu còn búi tóc, khoác lộc y, đây không phải là y phục của đệ tử Phật. Vì muốn Thiện Huệ bỏ trang phục của tiên nhơn liền hóa đất trước mặt thành vũng bùn nước đọng, cần đi ngang qua chỗ này. Thiện Huệ nhìn đức Phổ Quang Như Lai sắp bước qua vũng bùn, trong tâm nghĩ rằng: “Làm sao để đức Phật phước tướng trang nghiêm bước qua vũng bùn nước đọng này.” Thiện Huệ lập tức cởi bỏ tấm lộc y, trải xuống đoạn đường trước mặt đức Phật. Nhìn thấy tấm lộc y này không che khắp vũng nưóc, vội cắt búi tóc phủ trên phần còn lại của vũng bùn. Đức Phổ Quang Như Lai bước qua tấm lộc y và búi tóc, đối Thiện Huệ tiên nhơn mà thọ ký rằng: “Ông sau khi thành Phật, ở trong đời ác năm món ô trược, cứu khổ chúng sinh, không lấy làm khó, chính như ta vậy”. Thiện Huệ cởi bỏ lộc y, tự cắt búi tóc, khoác áo cà sa liền thành tỳ kheo đệ tử của Phật. Lúc bấy giờ Thiện Huệ đối trước Phật bạch rằng: “Con trước đây ở rừng sâu tu hành, có một giấc mộng kỳ đặc: 1- Thấy thân mình nằm trên biển lớn; 2- Thấy gối đầu ở núi Tu Di; 3- Thấy tất cả chúng sinh đều nhập vào thân mình; 4- Thấy tay mình nâng mặt trời lên; 5- Thấy tay mình nâng mặt trăng lên. Duy nguyện Thế Tôn vì con mà nói rõ tướng mộng này.” Bấy giờ đức Phổ Quang Như Lai nói với Thiện Huệ tỳ kheo rằng: “Ông muốn biết điềm mộng này ta sẽ vì ông mà nói: 1- Thấy thân ông nằm trên biển lớn, chính là ông tương lai sau sẽ sanh ở trong biển lớn sanh tử. 2- Mộng thấy gối đầu ở núi Tu Di là tương lai ông xuất sanh ở biển lớn sanh tử mà chứng đắc Niết Bàn. 3- Mộng thấy tất cả chúng sinh đều nhập vào thân ông là tương lai sau, là ông vì chúng sinh mà cho họ quy y. 4- Mộng thấy tay nâng mặt trời là ông tương lai dùng trí tuệ quang minh chiếu soi khắp pháp giới. 5- Mộng thấy tay nâng mặt trăng là ông tương lai dùng chánh pháp từ bi giáo hóa chúng sinh khiến cho họ xa rời khổ não. Đây là giấc mộng kỳ đặc tương lai ông thành Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni.” |
|
![]() |
|
MANG TÂM HÀNH ĐẠO ĐI VÀO CUỘC ĐỜI (Nói với Nhóm Phật Tử Đạo Tâm) Cuộc sống như dòng chảy, chuyển lưu, bất tận. Chúng ta cũng chuyển lưu theo dòng sống vô thường ấy. Và, vì thế, cuộc sống chúng ta là một tiến trình, luôn luôn biến đổi. Biến đổi ngay trong từng hơi thở, từng sát-na. Thăng tiến đi lên hay sa đọa, thụt lùi là tùy vào cách chọn lựa hướng đi cho cuộc sống của chúng ta. Ai chọn được lối đi thích hợp và đúng đắn cho đời mình, thì người đó có sự thăng tiến hạnh phúc, an lạc. Người có an lạc, hạnh phúc là người tìm thấy ý nghĩa chân thực của cuộc sống. Đó là điều mà ai trong chúng ta cũng mong tìm kiếm, mong đạt được. Nhưng ý nghĩa cuộc sống ấy tìm kiếm ở đâu? Trước hết là tìm ngay trong chính mình, trong từng tâm niệm và việc làm của chúng ta, và ngay trong phút giây hiện tại mà chúng ta đang sống. “Đừng tìm về quá khứ Sao trở về sống với chính mình trong hiện tại lại quan trọng? Bởi rằng, tâm chúng ta vốn có khuynh hướng hay bình thường hóa những gì mà ta đang có trong hiện tại, và ưa tìm cầu nhiều thứ quá. Tương lai chúng ta thế nào là tùy thuộc chính yếu vào cách sống của chúng ta trong hiện tại. Những gì có thể làm được cho mình cho người, cần phải làm ngay trong hiện tại. Tâm ta cũng hay dễ tiếp nhận những hạt giống xấu ác. Bởi rằng, sinh ra, hình hài và tâm thức chúng ta hiện hữu trên cuộc đời này đã là một sự hội tụ, tổng hòa của biết bao là nhân duyên - nghiệp quả, thiện và bất thiện, hạnh phúc và khổ đau. Như chúng ta biết, cuộc đời này thật đa diện và phức tạp. Lại nữa, sống trong thời đại văn minh vật chất và thông tin nhanh nhạy, chúng ta rất dễ bị cuống hút vào trong dòng xoáy của cuộc đua tranh, ham thích sống hưởng thụ vật chất, và bị ảnh hưởng bởi những điều tội lỗi. Cho nên, mỗi một chúng ta cần nhìn ra, và ý thức với chính bản thân mình. Sống không phải để hưởng thụ cho riêng mình, và hạnh phúc bền cửu không phải tìm nơi vật chất mà có được. “Thế gian vô thường, quốc độ nguy thúy, tứ đại khổ không, ngũ ấm vô ngã, sinh diệt biến dị”, cuộc thế thăng trầm như thế làm sao ta giữ được mãi những điều ta mong muốn? Nói đến hạnh phúc, an lạc là nói đến mối tương quan giữa ta với người. Đó là vấn đề duyên nghiệp tự - tha tương tác lẫn nhau. Khi tâm ta bất an, có nhiều đau khổ, hận thù, nóng nảy, thì mọi cư xử, hành động của ta đều mang chất liệu của sự phiền não, và ảnh hưởng đến môi trường xung quanh, “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” là vậy. Ngược lại, tâm ta rộng mở, an lạc thì người và vật quanh ta cũng ảnh hưởng được cái không khí nhẹ nhàng thanh thoát ấy. Khi chúng ta phát khởi tình thương và độ lượng với người, thì mọi hành động trong đời sống chúng ta đều tỏa ra một sự an bình cho người. Mang tình thương và sự nhiệt tâm của mình mà làm cho người được hạnh phúc hay thoát qua cơn khổ nạn, thì chính mình đã hưởng niềm an lạc trong lòng rất nhiều. Với đời, mang tâm từ và sự hiểu biết Chánh Pháp mà đi vào cuộc sống, chuyển hóa chính mình, vì người mà phụng sự, thì chắc chắn cuộc đời mình luôn luôn thăng tiến. Nhóm Phật Tử Đạo Tâm là những anh chị em tự nguyện đến với nhau, cùng nhau sinh hoạt trong môi trường hướng đến lành mạnh, và mang ý tưởng phụng sự chánh Pháp, làm đẹp cuộc đời. Như chủ trương Tôn chỉ hoạt động của Nhóm Phật Tử Đạo Tâm có nói: Với ước nguyện được tiếp tay chuyển bánh xe pháp đến muôn người, để khắp nơi đều gội nhuần Phật pháp, sống hạnh phúc, an vui. Tôn chỉ: • Cùng nhau tu học để thăng hoa cuộc sống qua sự chuyển hóa thân tâm, tiến bước trên hành trình hướng về chân lý giải thoát. Và đây cũng là ước mong của tất cả chúng ta trong ý hướng góp tay giữ vững đạo pháp và phát huy giúp đỡ tha nhân đưa giới trẻ đến gần với sự hiểu biết theo giáo pháp Phật Ðà không phân biệt trình độ, sắc tộc. Đúng vậy, chính lý tưởng phụng sự cuộc đời như vậy mới có thể giúp cho đời mình thăng hoa, ý nghĩa. Chính vì chuyển hóa được thân tâm mình mới có thể đi vào đời bằng chất liệu tha thứ và thương yêu, vì người mà hành sự một cách có hiệu quả, bền bỉ, mà không bị thối tâm mình. Giả như chúng ta có đặt ra nhiều mục tiêu to tát, mà không có tâm tu học, chuyển hóa tâm mình, không thay đổi được cái tâm hời hợt, ích kỷ nhỏ nhoi, tự ái tâm thường của mình, thì dù có cúng dường, tu phước, thi ân cho người chăng nữa cũng chỉ là nhất thời, rồi khi gặp hoàn cảnh bất như ý là thối lùi tâm chí. Vả lại, tâm chúng ta thường hay hành xử bởi cảm tính, bởi tập quán của phàm tình, nên nói phục vụ tha nhân nhưng chưa chắc đã là không có tâm lý vị kỷ. Cho nên, điều quan trọng, cần thiết là phải phát khởi tâm chí tu học, để phát triển tình thương và đời sống tỉnh thức. Dĩ nhiên, đó là con đường chân chánh, nhưng với chúng ta, có những người có đủ niềm tin và thời gian tu tập, còn số đông vẫn là những người chưa có cơ hội tu tập nhiều, thậm chí có người chưa có niềm tin vào Tam Bảo vững vàng, thì việc cố gắng học hỏi để huân tập tâm mình là điều rất đáng quan tâm. Dường như, có những người nghe đến giúp đỡ tha nhân mà còn phải tu học nữa khó quá phải không? Bồ tát Quán Thế Âm đi vào cuộc đời đâu phải bằng một lối đi suông sẻ, và đâu phải ngẫu nhiên Ngài có năng lực cứu độ vĩ đại như thế? Mà, Ngài đã trải qua bao kiếp tu hành, lập chí đi bằng tâm Đại nguyện: Nguyện mong cầu Phật Pháp, quyết chí tu hành giải thoát, nguyện rộng độ chúng sanh, vào khắp mọi nơi chốn, đặc biệt, vào những nơi đau khổ khốn cùng. Nhờ phát tâm tu học như vậy Ngài mới thành tựu đợc Từ bi và năng lực cứu độ lớn lao. Bởi vậy, chúng ta thấy, hình tượng của Ngài có cả thân tướng “Ngàn tay ngàn mắt”. Trên mỗi bàn tay có một con mắt, bàn tay biểu hiện của năng lực cứu độ được phát xuất từ tâm Đại bi, con mắt tượng trưng cho trí tuệ soi chiếu. Đó là sự hóa thân trong muôn vàn thân tướng, với năng lực cứu độ vô biên và trí tuệ soi sáng vô cùng. Chúng ta chưa phải là Bồ tát Quán Thế Âm, nhưng mỗi một người trong chúng ta cũng có thể làm được một hóa thân của ngài. Vì ngài vào cuộc đời “ngũ trược ác” này cũng chỉ vì mục đích hóa độ, chỉ lối cho chúng sanh đi. Chúng ta, mỗi người một cuộc sống với mỗi hoàn cảnh khác nhau, trình độ khác nhau, môi trường tiếp xúc khác nhau, chỉ cần chúng ta luôn mang tâm niệm là người con Phật, sống theo Phật, thì trong mỗi hành động, lời nói của chúng ta đều chuyển tải được chất liệu của tình thương, bao dung, tha thứ cho người. Một hành động đơn giản, giúp người một cách nhiệt tâm, hay một sự chia sẻ nỗi khổ với người một cách thật lòng là đã có thể cảm hóa được người. Gần gũi với người mà còn cảm hóa được người, đưa cho người biết đến Phật Pháp để người sống hạnh phúc hơn, đó là một phước duyên lớn vô cùng. Làm được như thế là chúng ta đang làm một hóa thân của Bồ tát Quán Thế Âm với bàn tay nắm bánh xe “Pháp luân” rồi đó. Hoặc giả như ở một môi trường khác, trong tình cảnh khó khăn, khốn khổ của người mà chúng ta mở lòng mình ra giúp đỡ người cả vật chất lẫn tinh thần, hay tìm cách kêu gọi người khác có khả năng hơn giúp cho họ, và còn đưa Phật Pháp cho họ sống nữa thì chúng ta đang làm một hóa thân của Bồ tát, hóa hiện vào trong sự hoạn nạn rồi vậy. Sống chung đụng trong nhân gian, va chạm nhiều hạng người, biết bao điều phiền nhiễu, chúng ta vẫn giữ được tâm bình tĩnh, cư xử với người một cách không tỳ vết, không đổ vỡ, thì chính là ta đang làm một hóa thân Bồ tát với thanh kiếm trí huệ trên tay chặt đứt phiền não vậy. Dẫu ở bất kỳ hoàn cảnh nào, vị trí nào mà chúng ta sống, hành sự cố gắng chuyển hóa cho chính mình và lợi lạc cho tha nhân, lúc ấy là hiện thân của Bồ tát xuất hiện ra nơi ấy. Thấy được như vậy, làm được như vậy thì Bồ tát Quán Thế Âm luôn luôn bên ta, ủng hộ cho ta, và chính ta cũng đã là một phần của Ngài. Chúng ta, những người đang thực tập tu học, muốn đi và đang đi trên con đường hướng đến đời sống cao thượng của Phật. Cũng như kẻ muốn đi và đang đi. Ý chí muốn đi đã là rất tốt, mà phải bước chân đi mới có thể tiến tới. Tu học là những bước đi trên con đường chuyển hoá. Mỗi bước đi là một sự chuyển hóa, hay nói cách khác, mỗi bước chuyển hóa thân tâm đã là mỗi bước đi lên trên đường giải thoát. Muốn thăng tiến đời mình thì phải tu học. Học thêm nhiều để hiểu biết rộng, nghe thêm nhiều để thấm dần vào tâm thức. Hiểu để tin sâu, tin hiểu rồi thì cần tự thân nỗ lực tu tập tâm mình. Muốn tiêu trừ nghiệp chướng thì phải cần chuyên sám hối, trì niệm. Để đời mình hạnh phúc hơn thì phải nên làm cho tha nhân bớt khổ. Sống trong đời, nếu đã không gieo được nhân lành, mà còn tạo thêm điều ác nữa thì không thể làm lại thân người được nữa trong đời sau, “nhất thất nhân thân, vạn kiếp bất phục”. Trong “Nhập Bồ tát hạnh” của Tôn giả Santideva có dạy: “ Có được thân người toàn vẹn (không bị các dị tật bẩm sinh, như thiếu trí, đui, điếc…) và nhàn hạ (đủ ăn, không quá ư vất vả để kiếm sống) là điều hết sức khó khăn mới có. Nay ta có được cơ hội làm cho đời mình thực sự có lợi ích (nghĩa là làm cho đời mình có ý nghĩa bằng cách tu tâm, một việc mà loài thú không thể làm được) mà không lợi dụng cuộc đời này để mang lại tự lợi, lợi tha thì về sau làm sao có được thân người toàn vẹn? Vậy, chúng ta đã biết đến Phật Pháp, đang có được cơ hội để học, hiểu và hành theo Chánh đạo, đó là phước đức lớn nhất, như kinh Phước Đức có nói: “Sống trong môi trường tốt Hạnh bồ tát là hạnh của Bi - Trí. Từ bi và Trí tuệ là hai diệu tánh cuả một chân tâm. Thành tựu Từ bi thì đồng thời cũng thành tựu Trí tuệ. Có Trí tuệ soi chiếu, thì sự thể hiện của Từ bi thấu đáo. Có tình thương chân thật mới làm cho trí tuệ nâng cao. Cuối cùng, điều quan trọng chúng ta cần thực hiện là mạnh mẽ hơn nữa phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo. Tâm ấy là tâm mong cầu tu học giác ngộ, để lợi lạc cho mình và cho người. Tâm ấy là tâm hướng thượng, và làm cho phước đức mình luôn luôn tăng trưởng. Đó chính là điều mà Luận “Nhập Bồ tát hạnh” cũng đã dạy: “Những hữu tình đang bị trói buộc trong ngục sinh tử mà khởi tâm Bồ đề, dẫu trong chốc lát, cũng được gọi là con của Phật, đáng được trời người kính lễ. Bất cứ lúc nào, một người khởi sự lập chí nguyện không lùi bước, thọ trì tâm hạnh Bồ đề, vì muốn cứu độ cho hết thảy hữu tình, thì từ lúc ấy trở đi, người ấy dù thức hay ngủ, hoặc nghỉ xả hơi, phước đức vẫn cứ liên tục phát triển rộng lớn như hư không”. Ai thực hành được một phần trong đó cũng đã là rất đáng quí. Vào cuộc đời, phát khởi được tâm chí Bồ đề, đó là điều quí giá nhất trên đời, để làm đẹp đời, tươi Đạo. Thích Pháp LạcCuối đông Bính Tuất Hiện Pháp Lạc Trú |

|
Năm 1999 Nhóm Phật Tử Đạo Tâm được chính thức thành lập trong phiên họp chiều chủ nhật 17 tháng 01 năm 1999 tại tư gia Tuệ Kiên, số 5204 Vicksburg Drive, Arlington Texas, với thành phần hội viên chỉ có 12 người. Dĩ nhiên trước đó đã có những buổi gặp gỡ, trao đổi ý kiến giữa các bạn trẻ với chú Tuệ Kiên. Nhóm bạn trẻ này đang thiếu người hướng dẫn vì vừa tự động giải tán sau một thời gian chuẩn bị thành lập Đoàn Thanh Niên thiện chí tại chùa Hương Đạo, nhưng bất thành với nhiều chướng duyên... Khởi đi từ con số không, song nhờ vào quyết tâm và thiện chí, Nhóm đã hoạch định dự án thực hiện Chương trình phát thanh Tu Học Phật Pháp Tiếng Từ Bi với số tiền mượn của các hội viên, tạm thời làm quỹ mua dụng cụ âm thanh… Những chương trình đầu tiên đã được thực hiện tại tư gia cô Hà Lan Phương, với dàn máy Cô cho mượn và chính Cô là người điều khiển những buổi thâu thanh, mà đa số thành viên đều chưa biết gì về kỹ thuật thâu âm … Phần bài vở do Tuệ Kiên soạn thảo, các giọng đọc thời đó gồm những bạn “mới vào nghề” cả, Diệu Ngọc, Từ Tâm Hòa là những giọng nữ hay nhất lúc đó… Đạo hữu Trần Đình Khoa từ những ngày đầu thành lập Nhóm, sát cánh và đóng góp rất nhiều ý kiến thật hữu ích… Nhóm cử Đồng Dương và Tiêu Mi xuống Houston học hỏi kỹ thuật qua những người bạn đạo. Một thời gian sau, cũng chính hai bạn trẻ này lại xuống Houston để học hỏi về cách xây dựng và xử dụng dàn âm thanh với hệ thống computer. Từ khi Tiêu Mi bắt đầu những chương trình Tiếng Từ Bi, cô say mê với công việc, kéo theo những bạn trẻ đã dành rất nhiều thời giờ đến đọc bài, edit bài để Tiêu Mi mix phần nhạc đệm, những chương trình Tiếng Từ Bi càng ngày càng khởi sắc…được phát thanh trên đài Tiếng Nước Tôi, do lòng ưu ái của Ông Thái Hóa Lộc, giám đốc Đài. Nhóm Đạo Tâm đã không dừng ở đó, nhạc sĩ Nguyễn Hải đã bắt đầu nhập cuộc, anh sáng tác và phổ nhạc Đạo, hợp cùng với Hà Lan Phương, hai vị bắt đầu hướng dẫn Ban Văn Nghệ Nhóm tập hát để sửa soạn cho các chương trình văn nghệ phục vụ các chùa nhân dịp Lễ Phật Đản, Vu Lan… cũng như tham gia vào các sinh hoạt của Cộng Đồng Người Việt địa phương… Năm này, ngoài những giọng ca xuất sắc của Mỹ Châu và Mỹ Ngọc, Minh Trí, Nhóm có thêm sự tham gia của những “cây” văn nghệ như Võ Thanh Thu, Như Định (làm phó trưởng Nhóm một thời gian),Võ Minh Thuận, Mỹ Linh, Chơn Minh, Tiêu Lệ, Tiêu Diễm, Diệu Châu (giọng đọc rất truyền cảm), Võ Thạch Đức, Quảng Tấn, Mỹ Anh, Thái Vân Tiên, Quỳnh Trâm, Ngô Quỳnh Yên, Lương Thu Hà (kịch nghệ), Bùi Diên Đạt (giọng đọc rất hay), Lê Tuấn, Lê Nguyên Khang... Sự tiếp tay và nhiệt tâm của Chơn Hảo, và cặp Pháp Thắm, Như Tín (cựu thủ quỹ Nhóm) cũng đã làm các sinh hoạt văn nghệ của các bộ môn kịch, hoạt cảnh, vũ… thêm phần khởi sắc. Ngày thành lập của Nhóm đã được đánh dấu bởi một chương trình văn nghệ gây quỹ hoạt động lấy tên là “Tình trong ý Đạo I” đã thành công rực rỡ. Vạn sự khởi đầu nan… Nhờ Phật độ, nhờ vào sự cố vấn và khuyến khích của Thầy Tịnh Đức, cư sĩ Mật Nghiêm và cư sĩ Minh Hoà, cùng sự hăng say nhiệt thành của các thành viên, Nhóm Phật Tử Đạo Tâm vững lòng bước tới… Năm 2000 Năm thứ nhì, các thành viên vẫn miệt mài với những chương trình Phật pháp Tiếng Từ Bi làm đẹp Đời, thơm Đạo, được mọi giới Phật tử hoan hỷ đón chờ và Đài Tiếng Nước Tôi vẫn tiếp tục yểm trợ. Với sự nhập cuộc của Huệ Lượng, từ Florida đến tạm cư tại Dallas, Tiếng Từ Bi lại có thêm bàn tay đắc lực và giọng đọc rất ấm áp truyền cảm hỗ trợ như Nguyên Hòa, Huệ Đức, Tâm Phổ, Ánh Minh... Cư sĩ Tâm Kiến Chánh vẫn tiếp tục hoan hỷ đưa Tiếng Từ Bi lên Trang Nhà Lotus Pro.Net do cư sĩ chủ trương và bỏ tâm huyết tự tay và đơn thân gầy dựng…Thật đáng tán thán sự dấn thân vì Đạo pháp của cư sĩ, khó có ai bì được. Những buổi trình diễn văn nghệ của Nhóm đều do sự tiếp tay của các ban nhạc và ca sĩ địa phương cùng sự hướng dẫn tập hát của Nguyễn Hải và Hà Lan Phương. CD “Đạo Tâm Nhạc Khúc 1” đã được thực hiện với những bản Đạo ca do Nguyễn Hải phổ thơ của Chư tôn đức, cư sĩ Mật Nghiêm và Tuệ Kiên. Tuy phẩm chất không hoàn hảo lắm, vì thâu lấy, song những giọng hát Hà Lan Phương, Mỹ Châu, Mỹ Ngọc và các ca sĩ Lê Thành, Ngọc Ánh, Lê Uyên cùng bé Ngọc Hạ đã được dịp bay cao. Cuối năm, chương trình văn nghệ gây quỹ “Tình trong Ý đạo II” nhân ngày kỷ niệm thành lập Nhóm cũng thành công tốt đẹp, dưới sự chứng minh của Thầy cố vấn và sự hiện diện của cư sĩ Mật Nghiêm đến từ California và cư sĩ Minh Hòa vẫn từ bi góp mặt… Năm 2001 Năm thứ ba, các thành viên càng thêm đông, mọi Phật sự đều hạnh thông. Nhóm tham gia diễn hành và thi xe hoa nhân ngày Lễ Độc Lập Hoa Kỳ. Ca sĩ Phương Thảo, nhạc sĩ Đồng Sĩ Long với tư cách thân hữu, nhưng sự đóng góp thì vô cùng nhiệt tâm, đã khiến cho các chương trình văn nghệ do Nhóm Phật Tử Đạo Tâm đảm trách càng được khán giả thưởng thức và khen ngợi. Nhóm vẫn bảo trợ cho GĐPT Hòa Cường tại Đà Nẵng, Gia Đình Phật Tử Liên Trì tại Vũng Tàu cùng các lớp học tình thương. Cũng trong năm nay, do nhờ bà thân của Pháp Thắm, tức Sư bà Diệu Thái, Nhóm Đạo Tâm đã quyên góp tịnh tài để yểm trợ cho việc xây chiếc cầu Đạo Tâm tại Xã Thạnh Quới, Huyện Thốt Nốt, Tỉnh Cần Thơ cho dân chúng địa phương và các em nhỏ đi học được an toàn. Quảng Định, Thủy Tiên với biệt tài văn nghệ, giọng đọc truyền cảm, đã tham gia Nhóm, để từ đây các Chương trình Tiếng Từ Bi đã rất phong phú và sức lôi cuốn người nghe có phần tha thiết hơn, hữu hiệu hơn. Phần nhạc Đạo trước kia khó tìm, nay Nhóm đã được nhạc sĩ Võ Tá Hân với một tâm Đạo nhiệt thành, một tài năng âm nhạc phong phú, đã cung cấp cho Tiếng Từ Bi những bản Đạo ca thật hay và sâu sắc. Đặc biệt năm nay, buổi văn nghệ gây quỹ hàng năm “Tình trong ý Đạo III” đã được Nhóm quyết định tổ chức vào chiều tối ngày 9 tháng 9, với sự hiện diện của cư sĩ Mật Nghiêm từ Little Saigon, nhạc sĩ Minh Trí từ San Jose, cư sĩ Tâm Kiến Chánh từ Oklahoma đã đến với Nhóm. Nhân dịp này, Nhóm cũng ra mắt CD Đạo Tâm nhạc khúc II gồm những bản đạo ca Nguyễn Hải phổ thơ Tịnh Đức, Mật Nghiêm và Tuệ Kiên với phẩm chất cao, do Quốc Dũng hòa âm và do các ca sĩ nổi tiếng ở Saigon trình diễn. Nghệ sĩ Mai Thy, ca sĩ Lê Thành, Phương Thảo, Hà Lan Phương, Sĩ Long hợp cùng những tiếng hát Mỹ Châu, Ngọc Tuấn, Thanh Thu và những tiết mục hấp dẫn khác. Quan khách địa phương không thể quên được màn hoạt cảnh “Đường Tam Tạng thỉnh kinh” do đạo diễn Tuệ Huyền viết và điều khiển… Chỉ hai ngày sau, biến cố 9-11 giết hại rất nhiều thường dân vô tội xảy ra, khi quân khủng bố cướp máy bay và đâm thẳng vào các tòa nhà cùng một số nơi biểu tượng cho quyền lực của Hoa Kỳ… Rất may, quan khách của Nhóm đã an toàn trở về nhà trước đó, thật là phước báu vô cùng. Từ đó, Nhóm hăng hái tham gia vào các buổi lạc quyên, văn nghệ gây quỹ giúp cho gia đình các nạn nhân đã bỏ mình hoặc bị thương tật do sự khủng bố gây nên. Ôi 2001… một năm với thật nhiều biến cố đau lòng! Năm 2002 Những chương trình phát thanh Tu Học Phật Pháp Tiếng Từ Bi vẫn được phát trên Đài phát thanh rất đều đặn. Như Định (giỏi về mọi mặt, một giọng đọc rất hay của các chương trình Tiếng Từ Bi), Thanh Vân, Huệ Lượng (chuyên viên của Ban phát thanh, giọng đọc ấm áp, truyền cảm) và Quảng Định (giọng Nam hay nhất, một MC giỏi, một cây văn nghệ) cùng một số bạn cũng luôn phải chạy đua với đồng hồ để kịp thời thực hiện các CD Tiếng Từ Bi đến rất nhanh vào mỗi chiều chủ nhật. Thiện Hà, Mỹ An vừa đến với Nhóm, Thiện Hà vốn là một huynh trưởng GĐPT, nên sẵn tinh thần dấn thân, đã một lần thực hiện Bản Tin cho Nhóm… Khoảng đầu năm 2002, một ban nhạc được thành hình với sự điều hợp của Thanh Thu, Tuệ Chiếu, Chương, Dũng, Mỹ Linh… tuy nhiên, do vì chủ trương không hòa đồng, sau ban nhạc này tự tách riêng để tập với lời hứa sẽ trở lại giúp Nhóm khi ban nhạc đã thuần thục để có thể đệm và hát những bài nhạc Đạo… Đáng tiếc thay! Tuy nhiên, có người đi thì cũng có kẻ đến: Như Tuyền (giọng đọc truyền cảm, một MC duyên dáng!), Bích Vân (giọng hát rất hay, Bồ đề tâm vững chãi), Quỳnh Vy (giọng đọc hay, giọng ca nữ đặc sắc, chuyên viên thực hiện Tiếng Từ Bi) … đã đến với nhiệt tình phục vụ Tam bảo… Cuối năm 2002, Nhóm thực hiện được quyển sách: 101 Mẩu chuyện Đạo, in lại tất cả những chuyện cổ tích Phật giáo đã do cô Diệu Hạnh Võ Thị Giao Trinh dịch từ cuốn “Phật giáo cố sự đại toàn”, nguyên tác Trung văn và gởi từ Pháp qua hệ thống Internet để Nhóm đọc trong các chương trình Tiếng Từ Bi. Tiền in do quý Phật tử khắp nơi hùn phước ấn tống. Bìa do Chân Quang trình bày rất trang nhã. Hiện quyển sách này đã hết, song Nhóm chưa có khoản tịnh tài nào để tái bản! Năm 2003 Năm nay Nhóm cũng có nhiều biến chuyển lớn: Tiêu Mi thấm nhuần Đạo pháp và đã hội đủ duyên lành thực hiện chí xuất gia mà cô đã ấp ủ từ lâu. Trước khi rời Nhóm, cô đã cẩn thận huấn luyện cho các bạn để có đủ khả năng tiếp tục thực hiện các chương trình Tu Học Phật Pháp Tiếng Từ Bi. Thế là Nhóm mất đi một thành viên rất đắc lực, một nhà soạn kịch, đạo diễn các hoạt cảnh… Nhóm Đạo Tâm vô cùng hãnh diện, luôn hỗ trợ và cầu nguyện cho con đường xuất gia của Cô được Chư Phật gia hộ… Vào khoảng gần cuối năm 2003, nhân duyên đã đưa Hải Châu (giọng ca nữ xuất sắc, giọng đọc rất hay), rồi sau đó là hai nhạc sĩ Khánh Hoàng, Khánh Hải, rồi Khánh Phong, Huy Hiển (giọng ca, giọng đọc rất trầm ấm), Túy Tâm (giọng hát rất hay và đặc biệt của Nhóm Đạo Tâm), Tiến Đức (rất đa tài, nhất là về văn nghệ), Vương Niệm (tay trống cừ khôi), Hải (tay trống thứ 2) đến với Nhóm. Ban văn nghệ bắt đầu sinh hoạt rất mạnh dưới sự điều động của Khánh Hải và Túy Tâm. Từ ngày có hai nhạc sĩ Khánh Hoàng, Khánh Hải về cộng tác, nhiều bản Đạo ca được sáng tác để cúng dường Tam bảo và Ban văn nghệ Đạo tâm đã nhận được sự khen ngợi của rất đông quý Phật tử khắp nơi. Cũng trong năm nay, Đặc san Hoa Vô Ưu đã được thực hiện nhân dịp Lễ Phật Đản. Chân Quang với nghề nghiệp chuyên môn, đã say mê làm việc để Đặc San được ra mắt đúng hạn kỳ, dẫu rằng trong thời gian này, Chân Quang cũng bị việc sở chi phối và đè nặng áp lực trên đôi vai… Trong năm nay, ban văn nghệ cũng luôn bận rộn với những chương trình văn nghệ chủ đề, phục vụ chùa Tịnh Luật, Đạo Quang … vào những dịp lễ lớn như Phật Đản, Vu Lan. Bàn về các tiết mục văn nghệ mà quên kể đến những màn vũ đặc sắc của các cháu Lê Sa, Lê Trân, Nguyễn Na, Uyển Nhi, Dương Hồng và Dương Hướng thì là một thiếu sót không thể tha thứ được! Lần nào có các cháu xuất hiện, lần đó không khí hội trường lại hào hứng, sôi nổi hẳn lên với âm thanh rộn ràng, với những hóa trang tuyệt đẹp, những điệu vũ tự nhiên, trẻ trung… Nhạc sĩ Nguyễn Tuấn, một thân hữu của Nhóm, đã được nhạc sĩ Võ Tá Hân giới thiệu với Tuệ Kiên. Trong năm nay, anh đã hợp tác, phổ nhiều bài thơ Đạo và đã gởi cho Quốc Dũng hòa âm, phối khí. Nhạc sĩ đã hoan hỷ cúng dường phần chi phí thực hiện CD, và đã hoan hỷ dành cho Nhóm Đạo Tâm độc quyền phát hành, cúng dường Tam bảo. Duyên lành Đạo pháp đã đem đến nhiều niềm vui nhân tổ chức văn nghệ gây quỹ cho Nhóm lần thứ tư, nhạc sĩ Nguyễn Tuấn đã cùng người bạn Nguyễn Xuân Đào sang tham dự. Đồng thời, đạo hữu Phong thuộc Hội Osho Việt Nam cũng từ California sang với Nhóm, dĩ nhiên là có sự hiện diện của cư sĩ Mật Nghiêm và Minh Hòa. Đạo hữu Phong đã giúp in, để Nhóm tái bản cuốn: “Con đường an vui và hạnh phúc” của Vĩnh Như và Hoài Văn Tử. Thục Hiền trình bày hình bìa, với nỗ lực rất đáng tán thán của Tâm Đồng trong phần đánh máy lại tất cả nội dung và những bài viết mới. Quyển sách hiện đã hết, Nhóm cũng không có khoản tịnh tài nào để tái bản thêm… Năm 2004 Vạn pháp do duyên sinh… Nhóm cũng không vượt ra ngoài phạm trù ấy! Có nhiều bạn mới đến đóng góp tài năng, công sức cho các Phật sự thì cũng có bạn vì hoàn cảnh công việc, gia đình phải rời bỏ Dallas ra đi. Nhóm mất Chân Quang và Niệm Từ, hai vị Bồ tát tại gia với giọng đọc rất truyền cảm, nhất là Chân Quang với nghề Graphic Design và tinh thần bặt thiệp, trẻ trung, dễ hòa đồng với các bạn trẻ. Tuy hai bạn về Toronto đã lâu, song mỗi lần nhắc lại, kỷ niệm xưa lại tràn về… Sau đó Huệ Lượng cũng phải di chuyển qua vùng Cali nắng ấm, bên này mất đi một tài năng, thì bên Đuốc Tuệ và quý Chư tôn đức vùng Cali lại có thêm một cánh tay rất đắc lực… Cô Hải Nhàn đã chính thức nhập cuộc sau nhiều lần từ khước vì hoàn cảnh gia đình quá bận rộn, mặc dù lâu nay, Cô vẫn tiếp tay đóng góp cho Nhóm rất nhiều về văn nghệ, liên lạc và tổ chức…Từ ngày có Cô chính thức hoạt động, ban văn nghệ, ban sinh hoạt, tu học đã rất khởi sắc. Cô đang nâng đỡ, dìu dắt cho các mầm non Nhất Tâm, Minh Hiếu và Minh Thư cả về đường Đạo lẫn khả năng đóng góp vào các chương trình văn nghệ của các cháu… Rất may là trước khi Huệ Lượng bỏ xứ Cowboy, duyên lành đã đưa Quảng Pháp đến, tuổi trẻ mà tài cao, tâm Đạo lại vững chãi vì Quảng Pháp đã từng sinh hoạt với Gia Đình Phật Tử chùa Tam bảo, Oklahoma, trước khi về Dallas làm việc. Thế là Quảng Pháp, Quỳnh Vy và Như Định lại tiếp tục những chương trình Tiếng Từ Bi để cống hiến cho đời. Bạn có tin rằng Long Thần Hộ Pháp vẫn muốn chúng ta tiếp tục thực hiện các Chương Trình Tu Học Phật Pháp Tiếng Từ Bi để chánh pháp được truyền bá hay không? Đến nay thì tôi tin chắc điều đó là có thật! Năm 2005 Các thành viên của Nhóm vẫn gặp nhiều khó khăn bởi nền kinh tế khắp nơi đang bị ảnh hưởng trì trệ, tuy nhiên, những bạn nào chưa bị thất nghiệp, thì vẫn nỗ lực không ngừng để tiếp tục thực hiện những chương trình Tu học Phật Pháp Tiếng Từ Bi. Nhóm quyết định chuyển sang nhờ Đài phát thanh Dallas - Vietnamese của cô Liên Bích để anh chị em đỡ cực, khỏi phải chạy lên, chạy xuống Dallas đưa CD cho Đài phát mỗi chiều chủ nhật. Với Đài mới, các bạn chỉ cần gởi qua Email là Đài nhận và phát thanh cho thính giả nghe. Ban văn nghệ vẫn sinh hoạt rất hăng say, những sáng tác mới luôn được trình diễn, giới thiệu. Năm 2005, Nhóm Phật Tử Đạo Tâm đã dồn nhiều nỗ lực yểm trợ quý Thầy, quý Phật tử trong buổi Văn nghệ gây quỹ xây dựng Linh Sơn An Lạc Viện được tổ chức ngay trên đất chùa tại thành phố Quitman. Nhân một buổi gây quỹ khác cho Linh Sơn, ở Trụ sở Cộng đồng Người Việt tại Dallas, Kiều Nga đã đến với Nhóm do sự giới thiệu của chính Mẹ của mình, đó là đạo hữu Diệu Đăng, một cảm tình viên rất thân thiết với Nhóm Phật Tử Đạo Tâm, chính đạo hữu đã phổ biến rất nhiều CD Tiếng Từ Bi cho quý vị cao niên khắp vùng Dallas-Fort Worth. Hai người bạn thân: Nhân và Danh, Henry Hiển đã đến với Nhóm trong khoảng thời gian này. Công tác đóng sân khấu trình diễn văn nghệ tại Linh Sơn An Lạc Viện thật vui với sự hợp tác của các bạn… Vào khoảng giữa năm, Thục Hiền, Tiến Đức đã xung phong đi bước đầu tiên trong việc tìm hiểu, học hỏi và thực hiện Website cho Nhóm Phật Tử Đạo Tâm, để tạo phương tiện truyền bá chánh pháp trong thiên niên kỷ mới. Thục Hiền tham gia Nhóm đã lâu, cũng do nhân duyên nghe một chương trình Tu Học Phật Pháp Tiếng Từ Bi. Sau khi gia nhập, Thục Hiền đem hết khả năng phục vụ rất hăng say, không biết mỏi mệt, chính Thục Hiền là người thúc đẩy mạnh mẽ để Nhóm quyết định thành lập thêm Ban Từ Thiện… Xin cám ơn các bạn với đạo tâm rất kiên cố… Những buổi trình diễn văn nghệ, hoặc góp nhân lực tiếp tân cho các buổi gây quỹ chùa Từ Quang xây dựng bãi đậu xe, xây Tăng xá và Lễ Vu Lan.; cũng như văn nghệ trình diễn nhân Lễ Phật Đản và Vu Lan tại chùa Tịnh Luật thì Nhóm Phật Tử Đạo Tâm bao giờ cũng sốt sắng chu toàn. Duy trì được những sinh hoạt trong một bối cảnh, mà người dân đang hoang mang với những sự kiện không mấy tốt đẹp bên ngoài, như chiến tranh Trung Đông, kinh tế bấp bênh, suy sụp… cũng là một thành công đáng kể, nhất là đã giúp cho anh chị em trong Nhóm thân thiết nhau, hiểu nhau hơn nữa khi cùng bận rộn chung lo các Phật sự… 2006 Năm nay, nền kinh tế đã phục hồi trở lại, một số thành viên bị thất nghiệp đã lần lượt kiếm được việc làm, ổn định cuộc sống, và dấn thân cho Đạo pháp nhiều hơn nữa. Ban Website được Quốc Huỳnh ra tay phục vụ, toàn bộ design cũ được Quốc sửa đổi, làm lại mới. Cho đến bây giờ, tuy vẫn còn nhiều việc phải làm, song lực lượng và tài năng của anh chị em trong Ban đang hứa hẹn thật nhiều những thay đổi với nhiều sáng kiến mới, design mới… để có thể hấp dẫn độc giả vào xem và học hỏi Phật pháp với chúng ta. Quốc sẽ mở khóa huấn luyện cho những bạn muốn học hỏi về Website, để tạo cơ hội phục vụ và tiếp tay phụ trách việc liên quan đến Website của Nhóm. Vào khoảng đầu năm Nhóm được hân hạnh tiếp đón Cô Viên Minh, mặc dầu Cô ở San Antonio song sự đóng góp cho Đạo Tâm thì rất mạnh mẽ. Cô giúp tài chánh, giúp điều động và MC cho các buổi Giảng pháp online “Nhóm Phật Tử Đạo Tâm” do Thầy Hằng Đạt làm Giáo thọ vào chiều chủ nhật, hai tuần một lần. Trong năm mới 2007, cô sẽ làm MC thêm một Chương trình giảng pháp online vào mỗi tối thứ Bảy, từ lúc 9 giờ, do Sư Minh Diệu thành lập, với sự hợp tác của Thầy Hằng Đạt và một số chư Tăng huynh đệ của Sư đang du học bên Ấn Độ, đó là chương trình “Phật giáo và cuộc sống”. Cuối tháng 3, nhân mùa Lễ Hội Quan Âm tổ chức tại chùa Việt Nam, Houston, Nhóm tiếp nhận thêm đạo hữu Minh Đăng, một chuyên viên chụp ảnh, quay phim vào Nhóm. Cũng thời gian này, Huệ Liên, một Phật tử có giọng ngâm thơ xứ Huế đã tham gia Nhóm. Dù ở mãi London-UK, Huệ Liên vẫn có thể đọc bài cho các Chương trình Tu Học Phật pháp Tiếng Từ Bi và đã một lần sang thăm Nhóm nhân Lễ Phật Đản tại chùa Tịnh Luật... Sau đó, Nhóm được tiếp đón thêm nhiều thành viên tài đức mới: Nguyên Tiêu (ở Las Vegas), Nguyên Thảo (Houston), Đồng Huệ (giọng hát thiên phú), Thế Trị, Hoài Nhân, Băng Tâm, Công Tâm, Mộng Kiều (nhiều tài năng, rất có tâm Đạo), Lê An (giỏi về ảnh, computer), Thế Huy, Diệu Thúy, Quốc Đặng, Nhuận Cư (kịch sĩ), Diễm Châu (giọng hát đặc biệt), John Cao (lo về an ninh cho Nhóm) và Lê Yên (giọng hát ấm lòng người)… Mỗi người mỗi vẻ, ai đến với Nhóm cũng đều nhiệt tâm đóng góp tài năng và sở trường của mình khiến các Nhóm sinh động hẳn lên. Trường hợp gia nhập Nhóm của cặp Thế Huy, Diệu Thúy cũng rất đặc biệt, sau khi nghe một chương trình Tu Học Phật pháp Tiếng Từ Bi và xem Website của Nhóm, Thế Huy đã gọi tới xin gia nhập cho mình và cho cả hiền thê. Từ đó hai đạo hữu Huy, Quý đều cùng hăng say đóng góp công sức và khả năng đặc biệt của mình, và rất hạnh phúc được gặp duyên lành phục vụ Tam bảo… Riêng cô Nguyên Thảo với sự hỗ trợ của Quảng Pháp, đang tiếp tục hợp tác với Đài phát thanh Tiếng Nước Tôi tại thành phố Houston trong tiết mục “Đọc truyện hàng tuần”. Trong năm 2007, Quảng Pháp sẽ mở lớp đào tạo chuyên viên kỹ thuật và giúp lập thêm một Station thâu âm, thực hiện Tiếng Từ Bi mới, tại tư gia đạo hữu Thế Huy-Diệu Thúy. Xin tán thán công đức và chào mừng tất cả… Ban văn nghệ vẫn luôn tập dượt, sáng tạo những màn vũ, màn hoạt cảnh mới (Băng Tâm, Quỳnh Vy, An Loan, Mỹ Dung, Kiều Nga, Chơn Hảo, Quốc Huỳnh, Minh Hải, Quảng Pháp, Tiến Đức đều rất xuất sắc trong các màn hoạt cảnh)…. Quảng Pháp với tài đóng kịch, viết kịch… cũng đã khéo léo vận động để những tài năng như Thủy Tiên, Tiến Đức, Parker (thành viên đặc biệt người Mỹ chính cống 100%), Hải Nhàn, Như Tuyền, Chơn Hảo, Khánh Hùng, Nhất Tâm và Minh Thư có dịp trình diễn, mang niềm vui đến cho quý Phật tử. Rất mong Nguyên Tiêu với tài âm nhạc về được Dallas thì vui biết mấy!… Từ khi website Đạo Tâm quyết định mở trang cho Thiếu nhi, cô giáo Việt ngữ Thục Hiền đã huy động một số các cháu như: Tuyết Mai, Nini, Mỹ Vân, Thiên Kim, Hoàng Kim, Mỹ Anh, Mai Anh… đến đọc bài cả phần Việt ngữ và Anh ngữ. Rất mong quý phụ huynh hướng dẫn cho con em tham gia Nhóm, hoặc khuyến khích các cháu vào Website Đạo Tâm để các cháu có dịp nghe đọc chuyện tiền thân Đức Phật, chuyện Nhân quả, tập hát những bài ca tụng Phật Đà, rèn luyện đức dục… Nhân chuyến tham dự Khóa Tu Học và Lễ đặt viên đá xây tượng đài Quan Thế Âm Bồ Tát, Nhóm cũng vừa tiếp nhận thành viên Minh Thuận Tulsa, Cô là một chuyên viên chụp hình, chắc chắn sẽ góp sức của mình trong việc xây dựng Nhóm. Có ba thế hệ làm việc chung, thế hệ “ông bà, cô chú” thì vẫn rất hăng say, ráng theo cho kịp với thế hệ “trẻ”, thuộc thành phần đa số. Tất cả đều đối đãi nhau như trong một đại gia đình, có trên, có dưới, có anh, có chị, có em, có cháu… rất là hài hòa… Ban từ thiện cũng vừa được thành lập để đáp ứng nhu cầu làm đẹp Đạo, thơm Đời của Nhóm. Mỗi thành viên tự nguyện đóng góp 10 Mỹ Kim mỗi tháng để giúp cho những cơ quan nuôi dạy trẻ mồ côi, người mù, người già không ai nuôi dưỡng… Những lần quyên tiền cứu lụt Katrina, cứu bão miền Trung… đã được phát động rất thành công. Từ đầu năm nay, Nhóm mở rộng vòng tay, bảo trợ thêm nhiều cơ quan từ thiện: Chùa Đức Sơn (Huế), chùa Tịnh Quang (Nha Trang), Trung tâm nuôi dạy người khuyết tật Kỳ Quang II (Gò Vấp), Chùa Ân Bửu (Cao Lãnh), Lớp học tình thương Liên Trì (Vũng Tàu), Ni sư Hạnh Huệ (Vĩnh Long), chùa Bửu Thắng (Darlac), Trường nội trú tình thương Phật Quang (Kiên Giang), vì chỉ cần góp 10 Mỹ kim một tháng, nên con số ân nhân hảo tâm, thành viên và thân hữu tham gia chương trình từ thiện mỗi ngày một đông… Khoảng giữa năm nay, nhạc sĩ Khánh Hoàng đã thực hiện 1000 CD Đạo ca “Đâu chẳng phải là nhà” và đã cúng dường hết số tiền phí tổn, khoảng trên hai ngàn Mỹ Kim với sự hòa âm phối khí của nhạc sĩ Thái Bảo Lộc. Hình bìa do Huệ Lượng trình bày. Cuối năm 2006, Nhóm đã tổ chức họp mặt để hoạch định chương trình cho năm 2007, hứa hẹn thật nhiều hoạt động tích cực nhằm phục vụ Đạo pháp, thăng hoa kiếp sống cho mình và tha nhân. Cũng vào dịp cuối năm 2006, hai CD thơ của cư sĩ Tuệ Kiên: “Lòng mẹ bao dung” và “Tâm hoa” được Đại đức Thích Nhật Từ giúp thực hiện tại Saigon và 1000 CD: “Về nguồn yêu thương” cũng được trình làng, gồm 12 bản Đạo ca do hai nhạc sĩ Khánh Hải, Khánh Hoàng phổ thơ Tuệ Kiên, hình bìa Giáng Đức Ngọc, với sự hòa âm phối khí của nhạc sĩ Quang Đạt. Tất cả ba CD này, với chi phí trên ba ngàn Mỹ kim cũng đã được Tuệ Kiên và Từ Hà hoan hỷ cúng dường cho Nhóm phổ biến… Nhân dịp đầu năm mới 2007, các thành viên Nhóm Phật Tử Đạo Tâm sẽ đánh dấu năm sinh hoạt mới bằng một buổi liên hoan mừng Tân Niên được tổ chức tại Trụ sở Cộng Đồng Người Việt tại Dallas vào chiều thứ Bảy, 6 tháng 1 năm 2007. Một bữa cơm thân mật với nhiều tiết mục văn nghệ hấp dẫn mà phần đóng góp là 15 Mỹ kim mỗi người. Bản tường trình này xin được chấm dứt nơi đây, với hy vọng quý vị thông cảm cho mọi khó khăn của những thành viên Nhóm Phật Tử Đạo Tâm, vừa đi làm, vừa “vác ngà voi” gánh những Phật sự liên tiếp bảy năm qua. Xin tiếp tục hỗ trợ và tiếp tay để chúng ta cùng nhau tiến tu Đạo nghiệp. Xin thân chúc những điều an lành nhất đến với tất cả các bạn thành viên cùng gia đình… Kính chúc quý thiện hữu tri thức một năm Đinh Hợi vạn sự cát tường, thân tâm thường an lạc… Tuệ Kiên |
||||
![]() |
Thay mặt Nhóm Phật Tử Đạo Tâm, Ban Biên Tập Đặc San Xuân Đinh Hợi xin cảm niệm công đức quý chư Tôn đức đã gửi những bài thơ, văn, Phật pháp cho Đặc San của chúng con. Ðây là những bài học quý giá, phong phú và đầy ý nghĩa. Chúng tôi cũng xin cảm ơn quý bạn đạo xa gần, quý thành viên đã dành thời gian quý báu sáng tác văn, thơ để góp phần hình thành đặc san này. Ðây là đặc san đầu tiên trên trang web Đạo Tâm, nên ắt hẳn không tránh khỏi những khuyết điểm; kính mong chư thiện hữu tri thức hoan hỷ chỉ giáo cho Đặc San ngày càng phong phú hơn. Kính mong sẽ được tiếp tục đón nhận những sáng tác mới để cùng nhau thực hiện Đặc San Vu Lan 2007 trên trang web Đạo Tâm. Nam Mô Đương Lai Hạ Sanh Di Lặc Tôn Phật.
TM Nhóm Phật Tử Đạo Tâm, |
|